• INTERNAL TALK 22 - TRIẾT HỌC HIỆN SINH CỦA JEAN-PAUL SARTRE - ĐINH HỒNG PHÚC - 14 thg 02, 2022
    22/ 02/ 2022
    Chủ nghĩa hiện sinh (Existentialism) có lịch sử ra đời từ thế kỷ 19 và phát triển mạnh mẽ ở giữa thế kỷ 20 vào những năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Bên cạnh triết học, nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực khác như thần học, kịch nghệ, nghệ thuật, văn học và tâm lý học. Jean-Paul Sartre, triết gia, nhà viết kịch, tiểu thuyết gia và nhà hoạt động chính trị người Pháp, chính là một trong những cái tên lớn nhất xây dựng một hệ thống lý thuyết vững chắc cho chủ nghĩa triết học đặc biệt này. Triết học hiện sinh của Jean-Paul Sartre có phạm vi rất rộng vì diễn trình tư tưởng của ông có nhiều bước ngoặc. Trong khi ở Berlin nghiên cứu Hiện tượng học của Husserl khoảng thời gian 1934-1935, ông viết tác phẩm Tính siêu việt của Tự ngã (Transcendental Ego). Năm 1943, ông đúc kết toàn bộ 10 năm nghiên cứu tiếp sau đó bằng tác phẩm lừng danh Tồn tại và hư vô (Being and Nothingness). Sau đó, ông chuyển từ hiện tượng học sang chủ nghĩa Marx. Jean-Paul Sartre không chỉ là một nhà Hiện sinh mà còn là một nhà Marxist. Từ năm 1945, bước chuyển từ Hiện tượng học sang chủ nghĩa Marx được thể hiện rõ nét qua văn bản Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản (Existentialism is a Humanism). Năm 1960, ông trình làng bộ sách 2 tập Phê phán lý tính biện chứng (Critique of Dialectical Reason). Sau đó, đi vào các hoạt động chính trị và bắt đầu viết những bài viết xoay quanh kinh tế chính trị. Hành trình tư tưởng của Jean Paul Sartre rất phong phú nhưng được giới thiệu ở Việt Nam nhìn chung khá phiến diện và hạn hẹp, người ta chỉ tiếp cận chủ yếu từ phương diện văn chương qua các tác phẩm kịch và tiểu thuyết: Buồn nôn, Ngôn từ,… Quyển Triết học hiện sinh của Trần Thái Đỉnh cũng có nhiều định kiến dành do các triết gia hiện sinh vô thần như Sartre. Về cơ bản, chủ đề trung tâm của triết học hiện sinh của Sartre luôn là "hiện hữu" và con người. Sartre lập luận rằng về cơ bản có hai loại hiện hữu. Đầu tiên là tồn-tại-tự-mình (being-in-itself - l'en-soi ), được mô tả là cố định, hoàn chỉnh, và hoàn toàn không có lý do gì cho nó - nó chỉ là vậy. Điều này về cơ bản giống như thế giới của các vật thể bên ngoài. Cái thứ hai là tồn-tại-cho-mình (being-for-itself - le pour-soi ), mà phụ thuộc vào cái cũ cho sự tồn tại của nó. Nó không có bản chất tuyệt đối, cố định, vĩnh hằng và tương ứng với ý thức của con người. Vì vậy, sự tồn tại của con người được đặc trưng bởi "hư vô" - bất cứ điều gì mà chúng ta tuyên bố là một phần của đời sống con người là sự sáng tạo của chính chúng ta, thường xuyên thông qua quá trình nổi dậy chống lại những ràng buộc bên ngoài. Đây là điều kiện của nhân loại: tự do tuyệt đối trên thế giới. Sartre đã dùng một câu nói nổi tiếng “tồn tại có trước bản chất“ để giải thích ý tưởng này, một sự đảo ngược của siêu hình học truyền thống và quan niệm về bản chất của thực tại. Chủ nghĩa hiện sinh của Sartre hoan nghênh nhu cầu tự do và cá tính của con người. Với hiện hữu, bản chất (cách tồn tại) của vật là being (là); của con người là becoming (trở thành). Con người không bao giờ yên phận, không bao “là” mà vượt qua khỏi cái “là”, sáng tạo các giá trị chứ không phải sống phục tùng giá trị, không phải “Con vua thì lại làm vua/ Con sãi ở chùa thì quét lá đa”. Con người luôn có sự ưu việt - luôn là một sự trở thành - vượt ra khỏi chính mình để nằm trong kích thước của một sự trở thành - dự phóng, phóng mình về phía trước, về tương lai. Muốn phóng mình vào tương lai thì ta phải lựa chọn. Khi là một hữu thể (existent), ta tự do trong việc lựa chọn, được phóng mình vào trong những khả năng lựa chọn và chính hành vi lựa chọn đó đã tiền giả định bản thân sự hiện hữu chúng ta không phải là cái gì định sẵn mà tự do (theo nghĩa đó là cấu trúc bản thể của con người chứ không phải tự do theo nghĩa chính trị - không phải là điều gì mà đó ai đó ban cho ta) và không có gì biện minh cho lựa chọn của chúng ta cả. Ta sinh ra không phải là một thằng hèn, không phải một người tội lỗi hay không tội lỗi mà dựa trên hành động của chính ta. Tự do tới đâu, trách nhiệm tới đó, tự do tuyệt đối, trách nhiệm tuyệt đối. Con người anh phụ thuộc vào cách anh tồn tại. Không thể nhân danh điều gì để biện minh, không thể đổ lỗi cho hoàn cảnh vì như vậy là dối trá, ngụy tín, tự lừa dối bản thân, là lối sống không đích thực, quên mất mình là chủ thể kiến tạo nên ý nghĩa của cuộc sống. Đây chính là một khái niệm trách nhiệm rất căn bản của Sartre. Tuy triết hiện sinh của Sartre đề cao cá nhân nhưng cần nhấn mạnh rằng cá nhân đó nằm trong mạng lưới kết nối, tồn tại với người khác, không thể thoát ly ra khỏi điều đó, con người phải chịu trách nhiệm cho hành vi của mình dẫu là hành động vô cớ nhất. Bất cứ hành động nào cũng sẽ dẫn đến hệ quả nào đó vì khi thực hiện hành vi sẽ nằm trong mối liên đới với một tồn tại khác. Ví dụ, một hành vi vô cớ như phóng một con dao ra cửa sổ tối om, không biết là có ai đó đang ở bên ngoài, nhưng rốt cục người đó vẫn chết. Do vậy, cần phải soi xét lại hành vi của mình với tư cách là một thành viên của cộng đồng, chúng ta không thể hiện hữu trong cõi riêng mà phải sống với người khác. Triết học hiện sinh của Sartre không đồng nghĩa với việc buông thả như nhiều ý kiến lên án mà thực chất nó gắn liền với tự do và trách nhiệm. “Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản”.
  • INTERNAL TALK 23 - TRIẾT HỌC CÓ THỂ LÀM ĐƯỢC GÌ CHO CHÚNG TA? - DƯƠNG NGỌC DŨNG - 21 thg 02, 2022
    05/ 03/ 2022
    “Triết học” xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ đại φιλοσοφία (philosophia), có nghĩa là tình yêu với sự thông thái. Các nhánh chính của triết học bao gồm: siêu hình học (metaphysics - nghiên cứu bản chất của thế giới), nhận thức luận (epistemology - nghiên cứu về bản chất, nguồn gốc và phạm vi của quá trình nhận thức), luận lý học (logics - nghiên cứu quy luật và cấu tạo chính xác của tư duy) và luân lý học (ethics - hệ thống hóa, bảo vệ và khuyến nghị các khái niệm về hành vi đúng và sai). Với phạm vi nghiên cứu sâu rộng như vậy, dường như triết học truy tầm sự thông thái trong mọi vấn đề chung và cơ bản của con người, từ thế giới quan và vị trí của con người trong thế giới quan, cho đến những vấn đề có kết nối với chân lý, sự tồn tại, kiến thức, giá trị, quy luật, ý thức. Triết học phân biệt mình với những môn khoa học khác bằng cách giải quyết những vấn đề đó trên tinh thần phê phán mang tính duy lý trong việc lập luận, phương pháp tiếp cận một cách có hệ thống. Triết học giúp chúng ta chất vấn những giả định của chúng ta bằng cách đặt câu hỏi. Không có ngành học nào khác đặt ra nhiều câu hỏi như Triết học. Cho dù đó là biện minh cho quyền con người, cân nhắc ý nghĩa của sự tồn tại, hay tìm ra hình thức chính phủ tốt nhất, Triết học luôn thúc đẩy sự tò mò của nhân loại. Những câu hỏi của triết gia có nguy cơ lật đổ những ý nghĩ thông thường và làm rối loạn cuộc sống vì họ trăn trở mọi điều, không có câu hỏi nào là quá nhỏ hay quá lớn đối với Triết học. Một đêm mát trời, bỗng dưng họ hỏi “Tôi là ai, nếu vậy thì bao nhiêu?”, chẳng hạn. Chính vì những đặc điểm đó mà triết học giúp được rất nhiều cho những kẻ hay trăn trở đó, về cơ bản là 3 điều. Thứ nhất, triết học giúp rèn giũa tư duy phản biện (critical thinking) bằng cách nhìn nhận vấn đề từ nhiều phía, “lắng nghe như một quan tòa - krínō ”. Thứ hai, triết học giúp chúng ta có một trí tuệ cởi mở, bớt thành kiến và biết lắng nghe những quan điểm khác chúng ta. Cuối cùng là bao dung - một đặc điểm vô cùng quan trọng, đặc biệt là trong chính trị - bao dung ở đây không phải theo nghĩa ba phải mà là đón nhận, quan sát, xem xét, nhận thức vấn đề từ đó giúp con người định hướng thái độ và hành động của mình một cách đúng đắn.
  • INTERNAL TALK 24 - NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG GIAO TIẾP XÃ HỘI - DƯƠNG NGỌC DŨNG - 28 thg 02, 2022
    21/ 03/ 2022
    Giao tiếp xã hội là một điều rất quan trọng trong cuộc sống. Hầu như ai cũng thừa nhận sự quan trọng của nó nhưng không thực hành rèn luyện nhiều. Giao tiếp không hẳn là phải từ hai người trở lên, mà khi đối thoại một mình cũng là giao tiếp. Giao tiếp không đơn thuần là nói mà còn là gửi email, tin nhắn,… 3 cách truyền đạt: lời lẽ, giọng nói, ngôn ngữ hình thể. Theo các nhà ngôn ngữ học, trọng tâm của giao tiếp là thông điệp “message” - ý muốn truyền tải. Vậy thì phải có người gửi thông điệp đó - sender và người tiếp nhận thông điệp đó - recipient. Khi tiến hành giao tiếp phải có mục đích - purpose, để thực hiện những chiến lược, công cụ cần thiết khi giao tiếp. Khi muốn gửi thông điệp, phải nghĩ đến mối quan hệ giữa bạn với người đó như thế nào, phương tiện gửi thông điệp phải phù hợp với đối tượng đó. Ngoài ra, cần phải phát hiện được điểm nhiễu (ngoại sinh, nội sinh) trong cuộc giao tiếp, nếu không, rất dễ tiếp tục mãi câu chuyện giữa hai người không hiểu nhau. Nhiễu ngoại sinh là những tiếng ồn bên ngoài: còi xe, tiếng karaoke,… Nhiễu nội sinh tức là những thành kiến có sẵn trong đầu, chỉ nghe và hiểu những gì mình thích nghe và hiểu, gạt đi những gì khác với quan điểm của mình. Muốn cải thiện giao tiếp, phải lắng nghe những điều khác với thế giới quan của chúng ta dẫu lắng nghe tích cực là một thói quen rất khó rèn luyện. Nên chịu khó lắng nghe, tự đặt công thức giao tiếp, chẳng hạn, nên nghe 2/3, nói 1/3 thời gian. Giao tiếp là tổng thể mọi hoạt động dẫn tới sự kết nối với đối tượng. Nguyên tắc cốt lõi của giao tiếp là làm cho đối phương thích mình. Mà điều một người thích nhất chính là bản thân mình. Nên hãy nói về họ, họ sẽ lắng nghe. Đặc biệt, cố gắng nhớ tên, nhìn vào mắt họ khi giao tiếp. Một khuyết điểm dễ thấy của nhiều nhân viên bán hàng là quá tập trung vào sản phẩm mà không tập trung vào khách hàng, khiến họ không đạt được kết quả kinh doanh như ý. Mời bạn truy cập fanpage Thư Hiên Dịch Trường để xem video clip buổi livestream này: INTERNAL TALK 24
  • INTERNAL TALK 25 - CẤU TRÚC NHÂN CÁCH THEO PHÂN TÂM HỌC - DƯƠNG NGỌC DŨNG - 07 THG 03, 2022
    31/ 03/ 2022
    Phân tâm học là một học thuyết nghiên cứu về tổ chức nhân cách và động lực phát triển nhân cách, khám phá thế giới bên trong con người, nhằm tìm ra lời giải cho những biểu hiện qua hành vi của con người ra ngoài thế giới khách quan. Từ đó, tìm ra những giải pháp để điều chỉnh hành vi của con người, đặc biệt là những hoạt động gây ảnh hưởng đến những giá trị của đạo đức và xã hội. Sigmund Freud, cha đẻ của phân tâm học, cho rằng nhân cách con người phức tạp, bao gồm ba yếu tố khác nhau cái nó (id), cái tôi (ego), và cái siêu tôi (superego). Cái nó là khía cạnh của nhân cách được điều khiển bởi các nhu cầu cơ bản, là thành tố duy nhất xuất hiện ngay từ khi sinh ra. Đây thường là bản năng, chẳng hạn như đói, khát hoặc ham muốn tình dục,… Cái nó là vô thức, hành động theo nguyên tắc khoái cảm, đòi hỏi sự thỏa mãn ngay lập tức bất kỳ một ham muốn hay nhu cầu nào. Nếu những nhu cầu này không được thỏa mãn tức thì sẽ gây ra trạng thái lo lắng hoặc căng thẳng. Cái tôi được điều khiển bởi nguyên tắc thực tế, phát triển nên từ bản năng, và nhiệm vụ của nó là đảm bảo những thôi thúc của bản năng được thể hiện ra một cách dễ chấp nhận trong thế giới thực. Nguyên tắc hiện thực chi phối cái tôi sẽ cân đo lợi ích và cái giá phải trả cho hành vi trước khi chủ thể quyết định thực hiện hay bỏ qua hành vi này. Cái tôi vận hành trong cả trạng thái ý thức, tiền ý thức và vô thức. Cấu phần xuất hiện cuối cùng của nhân cách là cái siêu tôi. Cái siêu tôi được điều khiển bởi các nguyên tắc đạo đức, nó chính là cảm nhận của chúng ta về cái đúng, cái sai trong cuộc sống, giúp hoàn thiện và giáo hóa hành vi. Nó đàn áp tất cả những thôi thúc khó mà chấp nhận của bản năng và cố tranh đấu để khiến bản ngã hành xử theo những tiêu chuẩn lý tưởng hóa thay vì theo những nguyên lý hiện thực kia. Bộ ba này không tồn tại độc lập riêng rẽ hay có ranh giới rõ ràng. Những bộ phận này của nhân cách rất linh động và luôn tương tác với nhau trong chủ thể, từ đó gây ảnh hưởng lên toàn bộ tính cách và hành vi của chủ thể. Theo Freud, chìa khóa cho một nhân cách khỏe mạnh là sự cân bằng của bộ ba này. Mời bạn xem video clip buổi nói chuyện này qua: Facebook: https://www.facebook.com/exlibrishermes/videos/341552621245027/ Youtube: https://youtu.be/WUcVkpGgpzQ
  • INTERNAL TALK 26 - NÂNG CAO KỸ NĂNG TƯ DUY PHÂN TÍCH VÀ TỔNG HỢP - DƯƠNG NGỌC DŨNG - 14 thg 03, 2022
    13/ 04/ 2022
    Tư duy phân tích và Tư duy tổng hợp là hai hoạt động tư duy khác nhau. “Phân tích” có nghĩa là chia nhỏ vấn đề thành nhiều chi tiết, giúp chúng ta xác định những nguyên nhân chính gây ra một vấn đề và Tổng hợp thì ngược lại, tập hợp những mảnh nhỏ chi tiết lại với nhau, giúp chúng ta nắm được bức tranh lớn, nhìn được tổng thể mà không quá sa đà vào chi tiết. Có thể nói, tư duy phân tích là bước đầu tiên để nắm bắt toàn bộ các chi tiết có liên quan và tư duy tổng hợp là bước sau cùng để nhìn nhận chuyện gì đang xảy ra, nó cũng tương tự như các thao tác làm việc của Sherlock Holmes trong tác phẩm của Arhur Conan Doyle, luôn khởi đầu bằng sự nắm bắt những điểm dù là nhỏ nhất rồi suy luận xem chúng gợi ra câu chuyện gì cho những điều đang xảy ra, xâu chuỗi lại để nhìn ra một bức tranh chung. Bán cầu não trái thiên về phân tích và não phải thiên về tổng hợp. Giả định rằng trí tuệ của mỗi người ngang nhau từ khi sinh ra, hai khả năng này cũng không phát triển giống nhau. Phải phân tích và đánh giá vấn đề mỗi ngày để phát triển hai kỹ năng này. Trong khi làm việc, đây chính là 2 kỹ năng cần thiết để tổ chức công việc và cách thức quản lý theo tinh thần khoa học. Cần trang bị các kỹ năng dưới đây để nâng cao tư duy phân tích, tổng hợp: So sánh những vấn đề diễn ra trong lý tưởng và trong thực tế Kiểm định và đánh giá các giả định của mình Xem xét ý nghĩa hàm ẩn và những hậu quả xảy ra khi ta thực hiện hành động nào đó Suy luận, dự đoán, diễn giải các sự việc một cách hợp lý Mời bạn xem video clip buổi nói chuyện này qua: Facebook: https://fb.watch/cmh2FjftQv/ Youtube: https://youtu.be/lA7l3XGxHUM
  • INTERNAL TALK 27 - LÀM RÕ VÀ ĐẶT CÂU HỎI VỀ NHỮNG Ý NIỆM - DƯƠNG NGỌC DŨNG - 21 thg 03, 2022
    18/ 05/ 2022
    Khái niệm là một đối tượng, một hình thức cơ bản của tư duy (bao gồm một ý tưởng, một ý nghĩa của một tên gọi chung trong phạm trù logic, hoặc một sự suy diễn) phản ánh những thuộc tính chung, bản chất của các đối tượng sự vật, quá trình, hiện tượng trong tâm lý học và mối liên hệ cơ bản nhất các đối tượng trong hiện thực khách quan. Thuật ngữ khái niệm bắt nguồn từ ngôn ngữ Latin, concipere, có nghĩa là một cái gì đó được hình thành trong tâm trí, được coi là một đơn vị nhận thức của ý nghĩa. Đó là cách suy nghĩ về một cái gì đó, bao gồm những đánh giá mang tính chủ quan. Trong đời sống, những khái niệm căn bản thường bị hiểu sai. Hầu hết mọi người khi được yêu cầu giải thích ý nghĩa của một khái niệm đều không có câu trả lời hoàn chỉnh. Những khái niệm cơ bản rất dễ gây tranh cãi khi không hiểu rõ tính phức tạp bên trong của khái niệm. Việc không hiểu rõ các khái niệm sẽ gây ra ngộ nhận, hiểu sai về người khác và cuộc hội thoại sẽ không thể đi đến mục tiêu cuối cùng. Khi dễ dàng chấp nhận những ý niệm có sẵn, hoạt động theo phản xạ, tư duy không được cải thiện và luôn bị áp đặt trong một khuôn khổ. Để tránh gây ra những tranh cãi không đáng có trong cuộc hội thoại, cần thống nhất các khái niệm trước khi bắt đầu hội thoại. Mời bạn xem video buổi nói chuyện này qua: Facebook: https://fb.watch/lam-ro-va-dat-cau-hoi-ve-cac-y-niem Youtube: https://youtube/lam-ro-va-dat-cau-hoi-ve-cac-y-niem
  • INTERNAL TALK 28 - NỘI HÀM VÀ NGOẠI DIÊN - SỰ QUAN HỆ GIỮA CÁC Ý TƯỞNG - DƯƠNG NGỌC DŨNG - 30 thg 03, 2022
    19/ 05/ 2022
    Khái niệm có hai thuộc tính là nội hàm và ngoại diên. Để hiểu rõ một khái niệm, cần thấu hiểu nội hàm và ngoại diên của khái niệm. Nội hàm của khái niệm là tổng hợp những thuộc tính bản chất của lớp các đối tượng được phản ánh trong khái niệm. Nội hàm của khái niệm biểu thị mặt “chất” của khái niệm, nó trả lời cho câu hỏi: Đối tượng mà khái niệm đó phản ánh là cái gì? Ngoại diên của khái niệm là toàn thể những đối tượng có thuộc tính bản chất được phản ánh trong khái niệm. Mỗi đối tượng là một phần tử tạo nên ngoại diên, còn ngoại diên của khái niệm là tập hợp tất cả các phần tử của lớp các đối tượng đó. Ngoại diên của khái niệm biểu thị mặt "lượng" của khái niệm, nó trả lời cho câu hỏi: Lớp các đối tượng mà khái niệm đó phản ánh có bao nhiêu? Nội hàm phản ảnh một trình độ của một thời kỳ nhất định, có thể thay đổi theo từng thời kỳ. Nội hàm sẽ xác định được ngoại diên của khái niệm đó. Tương quan giữa nội hàm và ngoại diên theo tỷ lệ nghịch, nội hàm càng rộng và ngoại diên càng hẹp và ngược lại. Quan hệ giữa các khái niệm chính là quan hệ giữa ngoại diên của các khái niệm. Giữa các khái niệm, có các quan hệ sau đây: Quan hệ đồng nhất: khái niệm có ngoại diên hoàn toàn trùng nhau. Có nghĩa là đối tượng của khái niệm này cũng là đối tượng của khái niệm kia và ngược lại Quan hệ bao hàm: khái niệm có trật tự, khái niệm này bao hàm khái niệm kia Quan hệ mâu thuẫn: hai khái niệm có ngoại diên tách rời nhau mà tổng ngoại của chúng bằng ngoại diên của khái niệm khác chứa chúng Quan hệ phụ thuộc: hai khái niệm có ngoại diên của khái niệm này chứa trong ngoại diên của khái niệm kia. Mời bạn xem video buổi nói chuyện này qua: Facebook: fb.watch/noi-ham-va-ngoai-dien-su-quan-he-giua-cac-y-tuong
popup

Số lượng:

Tổng tiền: