• TRUYỀN THỐNG NHẬN THỨC TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC (P1)
    20/ 06/ 2022
    Tóm lược một bài phỏng vấn giáo sư Tu Weiming (Đỗ Duy Minh) bằng Trung Văn đăng trong tuyển tập Nho Gia truyền thống đích hiện đại chuyển hoá do Nhạc Hoa biên tập (Trung Quốc Quảng Bá Điện Thị Xuất Bản Xã, 1992, từ trang 173 đến 191). Bản dịch Việt văn: TS. Dương Ngọc Dũng Sáng tạo ra triết học bằng cách giải thích truyền thống Người phỏng vấn: Thưa Đỗ Duy Minh tiên sinh, ngài đã nhiều lần nhấn mạnh "sự hiểu biết đồng tình" (đồng tình liễu giải) đối với các nhà tiên triết cổ đại, do đó đã tiến hành giải thích truyền thống trên một quy mô lớn. Tuy nhiên tôi cảm thấy một trong những căn bệnh tệ hại của văn hoá Trung Quốc chính là do ý nguyện giải thích truyền thống quá mạnh mẽ, bất luận thời gian nào, không gian nào, bất luận phải đối diện với bất kỳ loại thách đố nào, cũng tìm mọi cách truy cầu đáp án từ truyền thống, tìm mọi cách hấp thụ sức mạnh từ truyền thống. Theo phong cách như vậy, hơn hai ngàn năm giới trí thức chỉ còn biết đứng trước một số kinh điển chắp tay sùng bái, đánh mất cả sức mạnh sáng tạo, đánh mất luôn cả khả năng thích ứng, cuối cùng tạo ra một thứ "tự mình chích thuốc độc vào bản thân" (tự thể trúng độc), khiến cho toàn thể xã hội bị sa lầy, đình trệ giữa một thứ bệnh thái thâm trọng. Ngài giải thích ra sao về vấn đề này? Đỗ Duy Minh: Tôi cho rằng sự kiện này có liên quan đến vấn đề ý thức lịch sử của người Trung Quốc, tức là vấn đề nhân quả và cải cách. Từ đời Hạ đến đời Thương, từ Thương đến Chu, người đời sau đối với người đời trước luôn luôn có mối liên hệ nhân quả và cải cách, điều này có mối quan hệ rất mật thiết với tính kế thừa trong văn hoá Trung Quốc. Trước tiên chúng ta cần phải phân biệt hai loại hình sáng tạo. Loại hình sáng tạo thứ nhất mang tính chất đột phá. Tính chất này biểu hiện tương đối rõ ràng trong lĩnh vực khoa học. Khoa học phát triển, đôi khi có những bước đột phá các lý luận đi trước, phủ định các lý thuyết đi trước, có khi làm sụp đổ các quyền uy đi trước, sau đó một loại mô hình mới xuất hiện. Loại gãy đổ địa tầng ở bên trong nội bộ như vậy hết sức tự nhiên, mang ý nghĩa tiến bộ, nhảy vọt. Nhưng không hiếm người quan sát cho rằng sự đứt gãy địa tầng không hẳn nghiêm trọng như chúng ta tưởng. Còn có một loại hình sáng tạo thứ hai, chẳng hạn sáng tạo văn học, cho dù tác phẩm văn học có sáng tạo gì hết sức mới mẻ đi nữa, việc vận dụng ngôn ngữ cũng phải phù hợp với quy tắc hoặc văn pháp có sẵn, những quy tắc này không thể bị vi phạm. Anh chỉ có thể sử dụng ngôn ngữ không phù hợp với văn pháp sáng tạo ra những điều mới mẻ trong một phạm vi giới hạn tự giác. Điều này cũng giống như cuộc vận động cổ văn thời Bắc Tống, trong thời kỳ này đã xuất hiện một số văn hào như Âu Dương Tu, Tô Thức hay Hoàng Đình Kiên, tất cả đều vận dụng cổ văn thuần thục, thực sự đã đạt đến trình độ "bổ phong tróc ảnh" (bắt gió đuổi ảnh) mà văn học bạch thoại hiện đại vẫn chưa sao với tới được. Do đó, sử dụng một cách cực kỳ thuần thục và linh hoạt ngôn ngữ mọi người vẫn thường vận dụng cũng là một hình thái sáng tạo ra cái mới. Loại hình sáng tạo này không giống như loại hình sáng tạo trong khoa học. Nó có tính kế thừa nhất định. Truyền thống Trung Quốc, nếu nói theo ngôn ngữ phương Tây, thông qua việc giải thích mà sáng tạo ra triết học, tức là sáng tạo theo quan điểm của thuyên thích học. Anh nhất định phải hấp thu dưỡng chất từ kinh điển truyền thống rồi mới có thể biểu hiện được quan điểm đặc sắc của riêng anh. Những quan điểm đặc sắc này cũng có thể giúp cho anh hoặc người khác đối với vấn đề vi ngôn đại nghĩa trong kinh điển tiến hành một sự xiển dương và phát huy tiến bộ được một bước. Đây là một loại hình tiến bộ tuần hoàn mà vòng tròn mỗi lúc mỗi được khoáng trương rộng rãi thêm ra. Truyền thống Trung Quốc là một loại truyền thống có ý thức lịch sử rất mạnh mẽ. Tôi không thể nào tiếp thu được quan điểm của một số người đối với văn hoá Trung Quốc cho rằng đây là nền văn hoá có định hướng sùng bái quá khứ, không chịu nhìn về tương lai. Tôi cho rằng văn hoá Trung Quốc là nền văn hoá "suy trần xuất tân" (khai triển cái cũ, làm xuất hiện cái mới), từ trước đến nay vẫn có một sức sống vô cùng mãnh liệt. Nếu không văn hoá Trung Quốc không thể là nền văn hoá vừa trọng cổ vừa trọng kim được. Trên thế giới có rất nhiều nền văn hoá vô cổ hữu kim hay vô kim hữu cổ, nhưng văn hoá hữu cổ hữu kim thì tương đối hiếm. Nền văn hoá truyền thống có sức sống mãnh liệt giống như văn hoá Trung Hoa là một hiện tượng lịch sử độc nhất vô nhị. Truyền thống văn hoá Trung Quốc có tính kế thừa, đã biểu hiện được sức mạnh hưng thịnh của nó trong một thời gian dài. Nếu nói theo ngôn ngữ Kinh Dịch, đây là thành quả của việc "tự cường bất tức" (tự mình nỗ lực tiến bộ không ngơi nghỉ), không thể giản đơn cho rằng văn hoá Trung Quốc là một hiện tượng "tự thể trúng độc". Có nhiều người cho rằng sức sống trong văn hoá Trung Quốc, đặc biệt là sức mạnh sáng tạo trong lĩnh vực triết học, đã đạt đến đỉnh cao trong thời kỳ Tiên Tần, sau đó dần dần suy thoái, cho dù ngay trong thời kỳ tương đối sung mãn cũng không thể so sánh với thời Tiên Tần. Quan điểm này tôi không thể tán thành. Tôi cho rằng văn hoá Trung Quốc có nguồn gốc thâm viễn, dòng chảy mạnh mẽ đi rất xa (nguyên viễn lưu trường, ba lan tráng khoát), có khí phách kiêm dung rất lớn, mỗi thời đại đều có cống hiến đặc biệt mang sắc thái tinh tế hiển minh. Khi bàn đến lịch sử tư tưởng Trung Quốc, chắc chắn cần phải quan tâm đến những giai đoạn quan trọng, mỗi giai đoạn đều có nội dung phong phú phi thường, cần phải phát xuất từ nhiều giác độ khác nhau để lý giải các nội dung này. Ngoài ra vẫn còn một vấn đề nữa. Trước đây chúng ta vẫn xem văn hoá Trung Quốc là khởi nguyên từ một nguồn gốc duy nhất (nhất căn nhi phát), khởi thuỷ từ lưu vực sông Vị thuộc hạ lưu sông Hoàng Hà, dần dần phát triển rộng ra. Tôi cho rằng hiện nay rất ít người tiếp thu được quan điểm này. Văn hoá Trung Quốc thực ra bắt nguồn từ rất nhiều nguồn gốc khác nhau, có văn hoá Trung Nguyên, văn hoá Tây Bắc, văn hoá Sở thuộc Trường Sa, văn hoá Ngô Việt ở Trường Giang, văn hoá Quảng Đông và Vân Nam. Văn hoá Trung Nguyên có bình diện phát triển tương đối rộng rãi, bao gồm văn hoá Tề, Lỗ, văn hoá Yên, Triệu, có nhiều hình thức và chủng loại khác nhau, giữa các nền văn hoá này có sự tác động qua lại (hỗ tương kích đãng), hoà hợp với nhau, dần dần phát triển thành một nền văn hoá tương đối thống nhất. Có thể nói văn hoá Trung Quốc mỗi thời đại đều có sức sống riêng biệt, đều có sự phát triển đặc thù, đều có sự sáng tạo riêng biệt. Từ trước thời Thương, Chu, cho đến bách gia thời Tiên Tần, phái kinh học và sử học đời Lưỡng Hán, huyền học thời Ngụy Tấn, Phật Giáo Tùy Đường, Lý Học đời Tống Nguyên, khảo chứng học đời Thanh cho đến các học thuyết phát sinh sau thời Nha Phiến chiến tranh nhằm thích ứng với phương Tây, cho đến thời hiện đại, mỗi một thời kỳ đều có những vấn đề đặc biệt rất đáng được nghiên cứu, thảo luận. Chúng ta không thể sử dụng mô thức hiểu biết về thời Tiên Tần để giải thích thời Lưỡng Hán, cũng không thể dùng mô thức hiểu biết thời Lưỡng Hán để hiểu thời Ngụy Tấn, không thể dùng mô thức hiểu biết thời Ngụy Tấn để hiểu thời Tùy Đường. Bất kể từ phương diện văn hoá chính trị hay phương diện cấu trúc văn hoá đều không thể hiểu Trung Quốc, một quốc gia có nội dung văn hoá học thuật vô cùng phong phú, một cách đơn giản, thiển cận như vậy được. (Còn tiếp)
  • ĐIỆN ẢNH, VĂN HỌC VÀ CHỮ A MÀU ĐỎ - TS. DƯƠNG NGỌC DŨNG
    13/ 06/ 2022
    Chữ A Màu Đỏ (The Scarlet Letter) là một kiệt tác văn học Mỹ thế kỷ 19. Tác giả là Nathaniel Hawthorne (1804-1864), một nhân viên sở thuế hải quan trong bang Massachusetts. Bối cảnh của cuốn tiểu thuyết nói trên cũng nằm ngay trong bang Massachusetts. Bến cảng Plymouth, trong thế kỷ 17 đã bao lần đón những tín đồ Thanh Giáo (Puritans) Anh vượt biển tìm tự do tín ngưỡng, ngày nay vẫn giữ nguyên khung cảnh ngày xưa để thu hút khách tham quan. Câu truyện thật đơn giản nhưng cũng đầy kịch tính: nàng Hester Prynne, đã có chồng tại Anh, đến Mỹ lập nghiệp. Nghiệp đâu thì chưa thấy đã thấy “nợ”: Hester sa vào lưới tình với chàng mục sư trẻ tuổi Arthur Dimmelsdale và có thai. Đây là một tội nghiêm trọng trong cộng đồng các tín đồ Thanh Giáo. Kẻ có tội có thể bị tử hình bằng phương pháp treo cổ. Thống đốc bang đề nghị khoan hồng cho Hester nếu nàng chịu khai tên “tác giả” đứa con đang nằm trong bụng. Nhưng Hester cương quyết từ chối. Toà xử nàng phải đeo một chữ A màu đỏ trước ngực suốt đời. “A” có nghĩa là “adultery” (ngoại tình). Chàng Arthur đau khổ, hối hận, cũng âm thầm tự khắc lên thân thể một chữ A tương tự. Chồng của Hester sau đó cũng từ Anh vượt biển đến nơi và khi biết vợ phản bội đã dùng một tên giả định cư ngay cùng một thị trấn với Hester và Arthur để “truy tầm” ra thủ phạm đã cho ông mọc sừng và trả thù thật đích đáng. Tác phẩm này lại mới được chuyển thể điện ảnh (cùng tên với tác phẩm) với hai ngôi sao Demi Moore và Gary Oldman. Demi Moore đẹp não nùng trong vai một phụ nữ cương quyết đấu tranh cho tình yêu khiến khán giả quên tuốt đi rằng nếu tác giả Nathaniel Hawthorne được phép sống lại để chiêm ngưỡng cuốn phim này chắc chắn ông sẽ khóc thét lên và lìa trần lần thứ hai. Trong phim chàng Arthur và nàng Hester biến thành Romeo và Juliet của Mỹ, yêu nhau mùi mẫn bốc trời mây. Gary Oldman thủ vai một người hùng đầy nam tính, trong khi nạn nhân bị cắm sừng, chồng Hester, được mô tả như một thứ quỉ Satăng đầy nham hiểm, độc ác. Cuối cùng “chàng” liên kết với mọi da đỏ cho “quỉ mọc sừng” một trận te tua, cứu nàng chạy thoát được dây thừng treo cổ, dông thẳng qua bang California và sống hạnh phúc ở đó. Khán giả chắc chắn ra về trong sự hả hê vì một kết thúc có hậu, không biết rằng Hawthorne tác giả đang chưởi thề ở bên kia thế giới. Trong tiểu thuyết thì khác hẳn. Chàng Arthur bị chết trong tâm trạng dằn vặt đầy hối hận khi đi lạc ra khỏi con đường của Chúa đã vạch ra cho một tu sĩ. Ngay cả ông chồng sau khi trả được thù cũng chết trong sự ân hận nên đã để toàn bộ gia sản cho cô bé Pearl, con của Hester và Arthur. Kết thúc thật nặng nề, buồn thảm. Bao nhiêu học giả đã thảo luận tác phẩm này mà vẫn không đưa ra được một giải thích thoả đáng: tác giả Hawthorne đứng về phe nào: phe của Hester đấu tranh cho tự do yêu đương hay phe đạo đức Thanh Giáo lên án tất cả mọi xúc cảm lãng mạn là phi luân, vô đạo đức? Thật ra thì Hawthorne đã tránh né đưa ra một chủ đề thật minh bạch. Trong nhân vật Hester chúng ta tìm thấy lời biện luận hùng hồn cho một tình yêu rực cháy, bất chấp mọi qui luật xã hội, thách thức nền tảng của tôn giáo. Nhưng trong nhân vật Arthur chúng ta lại tìm thấy một lời khẳng định ngược lại: tình yêu là tội lỗi xấu xa, việc anh sa ngã chỉ chứng tỏ giáo lý Thanh Giáo hoàn toàn đúng: con người ai cũng là tội nhân trong con mắt Chúa. Phải nắm vững giáo lý của Thanh Giáo chúng ta mới hiểu được tâm trạng của Arthur hay nhân vật Goodman Brown trong truyện ngắn Young Goodman Brown mà mọi nhà phê bình đều cho là truyện ngắn hay nhất của Hawthorne. Arthur không hề cho rằng việc anh làm là đúng, trong khi Hester khẳng định sự thật phải phát xuất từ con tim, nơi cư ngụ của những đam mê cuồng nhiệt, bất chấp tiếng nói tỉnh táo của lý trí. Phân tích cuốn tiểu thuyết này chúng ta phải tách cặp tình nhân này ra làm hai tuyến chủ đề đối lập nhau: Hester tượng trưng cho tình yêu hiểu như một khát vọng mạnh mẽ vượt ra khỏi mọi sự khống chế. Arthur tượng trưng cho tình cảm tôn giáo đồng hoá sự gần gũi nam nữ chỉ chứng minh tính động vật sẵn có trong con người và ngăn cản hắn hướng đến các mục tiêu tâm linh cao cả. Và dĩ nhiên Hawthorne không về phe ai cả. Ông không đưa ra câu trả lời cuối cùng vì trong cuộc sống không hề có những câu trả lời cuối cùng, những giải pháp dứt khoát một lần cho mãi mãi về sau. Mỗi một con người phải tự tìm lấy đáp số cho các ẩn ngữ trong cuộc sống. Cũng như Hester tin tưởng rằng rồi một thế giới tươi sáng sẽ đến trong tương lai khi quan hệ nam nữ được xác lập trên một nền tảng đem đến hạnh phúc cho nhau, nhưng nàng không cho mình có đủ khả năng để làm một đấng tiên tri. Một thiên thần sẽ mang đến tin vui trong một tương lai xa vời, nhưng thiên thần đó trong trắng, tinh khôi, chứ không dơ bẩn, tội lỗi như nàng. Trong những ý nghĩ này của Hester dường như chúng ta đã chứng kiến sự kết thúc buồn thảm của một trái tim nồng nhiệt. Cuộc đời mà nàng đang sống, đang phải sống, không có lời giải đáp và cũng không mở cửa dẫn đến một lời giải đáp. Kẻ đóng lại cánh cửa từ bên ngoài chính là luân lý của Thanh Giáo.
  • LUẬT PHÁP: THƯỚC ĐO ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO - TS. DƯƠNG NGỌC DŨNG
    31/ 05/ 2022
    Tiến trình hình thành các định chế dân chủ, nếu nhìn theo viễn cảnh toàn cầu, luôn luôn được đi kèm theo một sự phê phán nghiêm khắc thực tiễn chính trị. Những biến đổi mau lẹ tại nước Mỹ sau năm 1985 đã khơi dậy sự quan tâm của quần chúng đối với vấn đề quan hệ giữa chính trị và đạo đức. Trước năm 1985 sự phê phán thiếu dân chủ thường hướng về Liên Xô (cũ) và các quốc gia Đông Âu, nhưng sau năm 1992 sự phê phán đó lại quay về chính bản thân định chế dân chủ tại Hoa Kỳ. Người lãnh đạo trong thế giới hiện nay thường là mục tiêu cho những sự phê phán dựa trên hai hệ thống tiêu chuẩn hoàn toàn trái ngược nhau: một mặt phải thoả mãn một lý tưởng đạo đức thật hoàn mỹ và hầu như không thể đạt đến được đối với một con người bình thường, nhưng mặt khác quần chúng cũng đồng thời đòi hỏi người lãnh đạo có ý thức thực tế cao độ và làm việc có hiệu quả và năng suất cao nhất. Nếu muốn trở thành một thánh nhân hoàn toàn đạo đức, một nhà lãnh đạo rơi vào một trạng thái hoàn toàn bất định và thông thường trở thành những kẻ bảo thủ và hẹp hòi. Dĩ nhiên sự phán xét thiếu hay có đạo đức hay không hoàn toàn là thuộc phạm vi chủ quan của riêng nhà lãnh đạo và chưa chắc đã phù hợp với thực tế. Nhưng điều này không dẫn đến hệ quả dùng phương tiện biện minh cho cứu cánh: một người lãnh đạo vừa có đạo đức vừa có năng lực không hề là một sự mâu thuẫn. Trường hợp cựu thủ tướng Lý Quang Diệu tại Singapore và Thủ tướng Chu Dung Cơ tại Trung Quốc là hai ví dụ điển hình trong thế giới hiện đại. Nhưng đạo đức của người lãnh đạo là đạo đức như thế nào, đạo đức theo mô hình Nho giáo (như Trung Quốc cổ đại), hay đạo đức theo mô hình Thiên chúa giáo (như Âu châu thời Trung Cổ), hay theo mô hình Phật giáo (Sri Lanka, Ấn Độ thời vua Asoka, Miến Điện thời U Nu..), hay đạo đức theo mô hình chủ nghĩa Khai sáng sau thời Cách mạng Pháp? Nếu chấp nhận và chọn lựa một trong những mô hình trên đây người lãnh đạo lập tức rơi vào sự chống đối của những nhóm ủng hộ các hệ thống đạo đức khác. Thế nào là luật pháp? Hiểu về đạo đức như thế nào? Luật pháp bao gồm những điểm căn bản sau đây: (1) quyền con người như được thừa nhận trong hiến pháp; (2) hệ thống pháp lý (dân luật, luật hình sự, luật tố tụng) nhằm thể hiện và bảo vệ các quyền con người căn bản trong các hoàn cảnh đặc thù, cụ thể; (3) các định chế chính trị dùng để thể hiện và bảo vệ quyền con người với tư cách là một công dân (Quốc Hội và các cơ quan dân cử khác). Thế nào là quyền con người hay nhân quyền? Các học giả thường khởi sự bằng cách truy nguyên ngược trở về khái niệm bản chất người và dùng đó làm cơ sở để biện luận cho khái niệm "nhân quyền". Thật ra những quyền làm người căn bản phát sinh từ một kinh nghiệm đau thương mang tính chất huỷ diệt và những người đầu tiên đề xướng chúng muốn khẳng định rằng một kinh nghiệm tương tự không thể tái diễn. Một triết gia người Nga, Vladimir Solovyov viết: "Nhiệm vụ của luật pháp không phải là biến thế giới tồi tệ này thành vương quốc của Chúa, nhiệm vụ của nó chính là tránh không cho thế giới này rơi vào địa ngục trước thời hạn. “Quyền con người không phát xuất từ một lý tưởng hay triết học trừu tượng nào cả. Chúng phát xuất từ nhận thức rằng: "Những chuyện như thế không được phép xảy ra nữa.” Đạo đức bao gồm những yêu cầu mang tính chất vô điều kiện, và không nhằm thoả mãn các nhu cầu cá nhân, mà hướng đến những bổn phận hay nghĩa vụ phải thực hiện bất chấp sự thiệt hại đối với quyền lợi cá nhân. Chẳng hạn khi giúp đỡ người nghèo mà còn kỳ kèo, tính lợi tính hại, thì nền tảng đạo đức của hành vi đó không còn tồn tại nữa. Dĩ nhiên đây là một định nghĩa theo khuynh hướng triết học Kant, nhưng chúng tôi chấp nhận định nghĩa này do tính chất tuyệt đối của nó. Luật pháp chính là phương tiện mang tính định chế duy nhất để giúp thế giới không rơi vào "địa ngục" bằng cách khẳng định và bảo vệ những quyền con người căn bản. Thật là ngây thơ khi cho rằng con người trên khắp thế gian sẽ được toàn thiện toàn mỹ và đoàn kết lại với nhau trong một giấc mơ dân chủ đại đồng, nhưng nhân loại vẫn có thể hợp tác với nhau để ngăn không cho thế giới rơi vào sự hỗn loạn và tan rã do thiếu chất keo pháp lý. Trong thực tế điều này có nghĩa là tiến trình dân chủ hoá các định chế chính trị phải đi song song với tiến trình pháp lý hoá các cơ cấu quyền lực. Sự góp sức của báo chí trong việc thúc đẩy hai tiến trình song song này đảm nhiệm một sứ mệnh quan trọng: nhắc cho mọi người nhớ rằng, luật pháp là thước đo đạo đức của người lãnh đạo.
  • ĐỨC TIN VÀ LÝ TRÍ TRONG CÔNG GIÁO VÀ HỒI GIÁO - TS. DƯƠNG NGỌC DŨNG
    23/ 05/ 2022
    Trong thông điệp Fides et ratio (Đức tin và lý trí) của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II gửi các giám mục thuộc hội thánh công giáo về tương quan giữa đức tin và lý trí năm 1998 Đức Thánh Cha có viết: “Đức tin và lý trí là đôi cánh giúp cho trí tuệ con người băng mình lên để chiêm niệm chân lý. Thiên Chúa đã in vào tâm khảm con người khát vọng nhận biết chân lý, và sau cùng để nhận biết chính Người, một khi đã biết và yêu mến Người thì con người cũng nhận biết chân lý đầy đủ về chính mình” (xc. Xh 33,18; Tv 27,8-9; 63,2-3; Ga 14,8; 1Ga 3,2). Có lẽ đây cũng là ý của Đức Giáo hoàng Benedict XVI trong bài thuyết trình tại đại học Regensburg (Đức) ngày 12 tháng 9 năm 2006, bài thuyết trình có nhan đề “Glaube, Vernunft und Universität— Erinnerungen und Reflexionen” (Đức tin, lý trí và đại học: những hồi ức và suy niệm). Trong bài thuyết trình này, Đức Giáo hoàng Benedict XVI có trích dẫn lời của hoàng đế Manuel II Palaiologos vào thế kỷ 14, vị hoàng đế theo đạo Thiên chúa cuối cùng của đế chế La Mã trước khi Constantinople sụp đổ vào năm 1453, nói về Hồi giáo (Islam) và chính điều này đã gây ra phản ứng chống đối dữ dội tại các quốc gia theo tôn giáo này. Lời nhận xét của vị hoàng đế này về Hồi giáo, theo đúng bản tiếng Anh của tòa thánh Vatican, như sau: “Hãy cho ta thấy Muhammad đã đem lại điều gì mới mẻ và các ngươi chỉ tìm thấy đó là những điều vô nhân đạo và tàn ác, như mệnh lệnh của ông ta là phải phổ biến đức tin mà ông ấy rao giảng bằng thanh gươm”. Khi trích lại câu nhận xét này của vị hoàng đế Manuel II, Đức Giáo hoàng muốn phân biệt rõ, một bên là quan điểm của Thiên chúa giáo (đại diện là hoàng đế Manuel II) rằng: “không hành động phù hợp với lý trí là đi ngược lại với bản tính của Thiên chúa”, với quan điểm của Hồi giáo (đại diện là Theodore Khoury, một học giả Hồi giáo), cho rằng Allah (Thiên chúa) vượt cao hơn lý trí của con người và ý chí của Ngài không thể bị bất kỳ nguyên tắc nào, kể cả lý trí, giới hạn. Khi trích dẫn câu nói của hoàng đế Manuel II, Đức Giáo hoàng Benedict XVI muốn chỉ ra một đặc điểm mà vị hoàng đế kia phản đối nơi Hồi giáo “truyền đạo bằng gươm” (forced conversion) và cho rằng điều thực hành này mâu thuẫn với lời dạy trong kinh Qur'an rằng “trong tôn giáo không có sự ép buộc”. Đức Giáo hoàng Benedict XVI muốn nói rằng giữa thực hành và giáo lý Islam có sự mâu thuẫn. Theo quan điểm thần học kinh viện hậu Tôma Aquinô (mà Đức Giáo hoàng Benedict XVI chấp nhận): Thiên chúa là Logos (Lý tính nhập thể) và con người là vật thụ tạo của Ngài (Imago Dei) nên con người khi hành động phải căn cứ trên các nguyên tắc của Lý tính và các nguyên tắc này không hề mâu thuẫn với Đức tin. Trong khi Allah của Hồi giáo lại siêu vượt cả các nguyên tắc của Lý tính. Nghĩa là Allah có quyền mâu thuẫn với chính Ngài nếu Ngài muốn. Theo Đức giáo hoàng Benedict XVI, một cuộc đối thoại thực sự giữa các tôn giáo phải có cơ sở trên các nguyên tắc rộng rãi nhất của Lý tính. Sau khi bị phản ứng dữ dội Tòa thánh có ra thông cáo giải thích lại ý nghĩa “thực sự” của bài thuyết trình nói trên của Đức giáo hoàng Benedict XVI và nhấn mạnh rằng ý của Đức Thánh Cha nhấn mạnh việc chống lại bạo lực bất kể vì lý do gì hay xuất phát từ bất kỳ tôn giáo nào (chứ không phải chỉ nói riêng Islam). Xem ra lời biện luận này cũng chẳng có giá trị bao nhiêu trong việc làm giảm sự công kích nhằm vào bài thuyết trình. Với vai trò đứng đầu Hội thánh Công giáo, Đức Thánh Cha luôn luôn phải đương đầu với hai yêu cầu mâu thuẫn nhau trong việc đối thoại với các tôn giáo khác: Bảo vệ đức tin và bản chất đặc thù của Công giáo (defend genuine Catholic faith and identity) Phê phán những thực hành sai trái (ví dụ bạo lực) nơi các tôn giáo khác nhưng vẫn phải tôn trọng các tôn giáo đó, ví dụ phải tôn trọng đức tin và bản sắc đặc thù của Hồi giáo (chẳng hạn việc một nhà thần học Hồi giáo nổi tiếng cho rằng Allah đứng cao hơn cả lý trí và Ngài có thể vượt qua mọi quy luật mà chính Ngài đã đặt ra)
  • BỐN GIẢNG LUẬN VỀ THIỀN CỦA BỒ ĐỀ ĐẠT MA
    17/ 05/ 2022
    Trong truyền thống Thiền học, giác ngộ là tâm tủy của Phật Giáo. Nhưng Thiền không phải giác ngộ, giác ngộ cũng không phải là Thiền. Nói cho thật chính xác, giác ngộ là cứu cánh của Thiền. Muốn thấu triệt chứng ngộ tối hậu, cái gọi là tri thức hàn lâm thuần túy cần phải được chặt đứt từ gốc rễ để được thay thế bằng một trực kiến sâu xa hơn, thâm mật hơn, bắt nguồn từ chính Phật tánh trong chân tâm của hành giả. Tổ Bồ Đề Đạt Ma nói: “Chúng sinh điên đảo không biết không hiểu tâm mình chính là Phật” (Chúng sinh điên đảo, bất giác bất tri tự tâm thị Phật. Huyết mạch luận). Trong tất cả các trường phái Phật Giáo, duy nhất chỉ có Thiền Tông khẳng định sự gắn kết chặt chẽ giữa “kiến tánh” và giác ngộ. Và chính Bồ Đề Đạt Ma là người đầu tiên đặt nền móng cho sự gắn kết ấy. Nếu Thiền học là cốt tủy của Phật Giáo, thì Bồ Đề Đạt Ma là cốt tủy của Thiền Tông. Không thể quan niệm sự ra đời và phát triển của tông môn này nếu không có nhân vật nửa lịch sử nửa huyền thoại này. Tại Việt Nam có lẽ học giả Trúc Thiên, người dịch quyển thượng trong bộ Thiền Luận của D.T. Suzuki, là người đầu tiên dịch tác phẩm của Bồ Đề Đạt Ma (Sáu cửa vào động Thiếu Thất, An Tiêm, 1971). Đến năm 2006 toàn bộ các tác phẩm được gán cho Bồ Đề Đạt Ma được nhà nghiên cứu Nguyễn Minh Tiến dịch trọn vẹn từ Hán văn sang Việt ngữ (Thiếu Thất lục môn, NXB. Tôn Giáo, Hà Nội, 2006). Gần đây Công ty CP VH Văn Lang đã cho ra đời bản dịch mới của dịch giả Tiến Thành dựa trên bản tiếng Anh của Red Pine (The Zen Teachings of Bodhidharma). Ưu điểm của bản Red Pine là có kèm theo nguyên tác Hán văn nên dịch giả Tiến Thành, vốn uyên thâm chữ Hán (ông đã từng dịch trọn bộ Hoàng Đế Nội Kinh), có thể tham khảo và phiên dịch trực tiếp rất thuận tiện. Nhưng do căn cứ vào bản Red Pine nên dịch giả Tiến Thành không dịch trọn vẹn hết sáu tác phẩm tương truyền là của Bồ Đề Đạt Ma. Bản dịch lần này chỉ có: Lược đạo Đại Thừa nhập đạo tứ hành quán, Huyết mạch luận, Ngộ tính luận, và Phá tướng luận. Một số các nhà nghiên cứu (bao gồm cả học giả Nguyễn Minh Tiến) có thái độ nghi ngờ, cho rằng Bồ Đề Đạt Ma chỉ là nhân vật huyền thoại, không có thật trong lịch sử, và những tác phẩm được gán cho ông thật ra là do hậu nhân sở tác. Thật ra trong tình trạng học thuật hiện nay cũng khó lòng đưa ra kết luận cuối cùng về vấn đề này. Văn bản sớm nhất đề cập đến nhân vật Bồ Đề Đạt Ma là Lạc dương già lam ký của Dương Huyễn Chi (khoảng năm 547) người đã gặp một nhà sư tại chùa Vĩnh Ninh tự xưng là Bồ Đề Đạt Ma có tuổi thọ 150 tuổi. Tác phẩm thứ hai là Tục cao tăng truyện của Đạo Tuyên (chết khoảng 667) có viết hẳn một tiểu sử chi tiết về Bồ Đề Đạt Ma (quyển 16) và nêu tên Huệ Khả và Đạo Dục là hai đệ tử của Đạt Ma. Chi tiết Đạt Ma 150 tuổi trong phần tiểu sử này có lẽ vay mượn từ Lạc Dương già lam ký. Đạo Tuyên cũng có thể sử dụng nguồn thông tin của Đàm Lâm (525-543), người biết đến tư tưởng của Đạt Ma thông qua Huệ Khả. Đàm Lâm là người viết lời tựa cho bài giảng pháp Nhị Nhập tứ hành luận. Đàm Lâm có lẽ đã sử dụng những tài liệu rất xưa vì cùng những thông tin ấy cũng được tìm thấy trong tác phẩm Lăng già sư tư ký được phát hiện tại Đôn Hoàng (có niên đại khoảng từ 713 đến 716). Yanagida Seizan (Liễu Điền Thánh Sơn), chuyên gia Nhật Bản hàng đầu về lịch sử Thiền, đánh giá rất cao tính lịch sử trong lời tựa của Đàm Lâm, mặc dù ông thừa nhận “có nhiều điều rối rắm lộn xộn trong tiểu sử của Đạt Ma” (Chùgoku zenshùshi, tr.12). Đi vào nội dung các tác phẩm tương truyền là của Bồ Đề Đạt Ma, người chính thức được công nhận là sơ tổ của dòng Thiền Trung Hoa, chúng ta cảm nhận rằng bất kể nhân vật Bồ Đề Đạt Ma là có thật hay không, những tác phẩm này rõ ràng đã nắm được tinh tủy của Thiền học từ bên trong, đặc biệt là phần Phá tướng luận. Có thể khẳng định trong tư tưởng Thiền học sơ nguyên này không hề có sự phân biệt giữa Nam Tông và Bắc Tông, giữa thiền quán và việc đọc tụng kinh điển, giữa trì giới và chứng ngộ, như nhiều người đã ngộ nhận về sau. Không hề có những hành vi hay ngôn ngữ kỳ quái. Không hề có chuyện thần thông thần lực. Trái lại triết lý của Thiền, hay của Phật Giáo nói chung, vẫn chỉ gom vào trong hai chữ “giải thoát,” giải thoát chúng sinh ra khỏi sự chấp trước vào hình tướng, vào những ảo tưởng mê muội dìm sâu chúng ta vào cõi đời phiền não. Tinh thần ấy của Thiền thực sự là một cống hiến lớn vào văn minh nhân loại.
  • GIỚI THIỆU BỘ SÁCH BÍ THUẬT ĐẠO GIÁO - MANTAK CHIA
    10/ 05/ 2022
    Không phải dễ khi muốn trả lời câu hỏi “Đạo Giáo là gì?” Phải chăng đó là một phong trào tôn giáo cứu thế khởi xuất vào thời Hán trong thế kỉ thứ hai? Phong trào này có gì liên quan đến tư tưởng của Lão Tử và Trang Tử? Các trường phái võ đạo Trung Quốc và những thực hành khí công, đạo dẫn ngày nay phải chăng cũng có thể thu gom vào danh xưng Đạo Giáo? Hay đó là bí quyết dạy thuật trường sinh, bất tử? Tất cả những câu hỏi trên đều có lời giải đáp mỹ mãn trong bộ Bí Thuật Đạo Giáo của tác giả Mantak Chia và nhiều đạo gia Âu Mỹ khác. Có thể nói lần đầu tiên trong lịch sử in ấn Việt Nam độc giả chứng kiến sự xuất hiện một bộ toàn thư về Đạo Giáo đồ sộ như vậy. Hai tác giả của bộ Bí Thuật Đạo Giáo đã kết hợp hoàn hảo cả ba phần: từ cơ sở lý luận truyền thống của Đạo Giáo, phương pháp thiền định của Phật Giáo, cũng như một nền tảng y sinh học hiện đại vững chắc, các tác giả đã đề ra một phác đồ hoàn chỉnh hướng dẫn người đọc từng bước một tiến nhập vào bí cung của Đan Pháp Đạo Giáo để kéo dài tuổi thọ, tận hưởng cuộc sống hạnh phúc, và trở thành bất tử như chính vũ trụ. Sống mãi mãi cùng đất trời năm tháng chính là mục tiêu tối hậu của các thực hành nội ngoại đan của Đạo Giáo. Chúng ta có thể lắc đầu cho đây là một mơ ước viển vông nhưng những tiến bộ ngoạn mục trong công nghệ sinh học đã hé mở cho nhân loại những viễn cảnh vô cùng mới mẻ cho nhân loại. Viễn cảnh đó, nếu trở thành sự thực, là tai họa khủng khiếp hay là hạnh phúc tràn đầy cho con người thì vẫn còn là một câu hỏi mở cho các triết gia, những nhà đạo đức học, và cơ quan quản lý nhà nước. Khái niệm “trường sinh bất tử” giờ đây không còn là một giấc mơ vớ vẩn của các đạo sĩ đời Hán nữa. Nó xứng đáng được chúng ta xem xét và đánh giá một cách nghiêm túc.
  • MỘT MÓN ĂN KINH KHỦNG - TS. DƯƠNG NGỌC DŨNG
    18/ 04/ 2022
    Trong MẶC TỬ có một đoạn văn rất kỳ lạ như sau: 昔者越之東有輆沐之國者,其長子生則解而食之,謂之宜弟 = Tích giả Việt chi đông hữu Khai Mộc chi quốc giả, kỳ trưởng tử sinh tắc giải nhi thực chi, vị chi nghi đệ = Xưa ở phía đông nước Việt có nước Khai Mộc, khi đứa con trai đầu lòng sinh ra, họ cắt nhỏ nó ra rồi ăn, nói là như thế có lợi cho em nó (MẶC TỬ 墨子: Tiết táng hạ 節葬下 1). Bản tiếng Anh dịch rất rõ như sau: “Formerly, to the east of Yue, there was the county of the Kaimu. When a first son was born, they cut him up and ate him. They call this “fitting for the younger brother” (Ian Johnston, “The Mozi: A Complete Translation” New York: Columbia University Press, 2010, tr. 227). Tục lệ ăn thịt đứa con trai đầu lòng được nhắc lại trong một nơi khác của MẶC TỬ: “魯陽文君語子墨子曰:‘楚之南有啖人之國者橋,其國之長子生,則鮮而食之,謂之宜弟。美,則以遺其君,君喜則賞其父。豈不惡俗哉?’子墨子曰:雖中國之俗,亦猶是也。殺其父而賞其子,何以異食其子而賞其父者哉?苟不用仁義何以非夷人食其子也?’= Lỗ Dương Văn Quân ngữ tử Mặc tử viết: Sở chi nam hữu Viêm nhân chi quốc giả kiều, kỳ quốc chi trưởng tử sinh, tắc giải nhi thực chi, vị chi nghi đệ. Mỹ tắc dĩ di kỳ quân, quân hỉ tắc thưởng kỳ phụ. Khởi bất ác tục tai? Tử Mặc tử viết: tuy Trung Quốc chi tục, diệc do thị dã. Sát kỳ phụ nhi thưởng kỳ tử, hà dĩ dị thực kỳ tử nhi thưởng kỳ phụ giả tai? Cẩu bất dụng nhân nghĩa, hà dĩ phi di nhân thực kỳ tử dã? = Hoàng tử Dương Văn thuộc nước Lỗ hỏi Mặc tử: “Phía nam nước Sở có một nước của người Viêm tộc tên là Kiều, trong nước hễ sinh con trai đầu là chặt ra ăn thịt, bảo là tốt cho các em sau này. Nếu thịt ngon (MỸ 美), sẽ mang dâng cho vua, vua nếu hài lòng sẽ thưởng cho người cha. Chẳng phải đó là một phong tục dã man sao?” Mặc tử đáp: “Phong tục Trung Quốc cũng thế. Cũng giết cha rồi thưởng cho con, có gì khác với ăn thịt con rồi thưởng cho cha? Nếu không có nhân nghĩa thì tại sao lại chê bai những kẻ man rợ ăn thịt con?” (MẶC TỬ 墨子: Lỗ vấn 魯問).HẬU HÁN THƯ cũng có chép việc này: 其西有噉人國生首子輒解而食之謂之宜弟。味旨,則以遺其君 君喜而 賞其父。取妻美,則讓其兄。今烏滸人是也 = Kỳ tây hữu Cảm nhân sinh trưởng tử sinh thủ tử triếp giải nhi thực chi vị chi nghi đệ. Vị giai tắc dĩ di kỳ quân quân hĩ nhi thưởng kỳ phụ .Thú thê mỹ, tắc nhượng kỳ huynh. Kim Ô Hử nhân thị dã = Phía tây có nước Cảm sinh con trai đầu lòng là chặt ra ăn luôn, nói là tốt cho em trai. Nếu vị ngon sẽ đem dâng cho vua, vua nếu hài lòng sẽ thưởng cho người cha. Ai cưới vợ đẹp, phải nhường cho anh. Bây giờ là người Ô Hử vậy” (HẬU HÁN THƯ 後漢書: NAM MAN TRUYỆN 南蠻傳). Theo học giả Cừu Tích Khuê 裘錫圭 trong bài viết “SÁT THỦ TỬ GIẢI 殺首子解” (Giải thích việc giết con đầu lòng), tạp chí CHINESE CULTURE 2 (1994): 52–56, đây là một nghi thức tôn giáo liên quan đến việc cúng kiến thần linh, cầu xin mùa màng bội thu. Nhưng theo một học giả khác là Phan Thế Hùng (Phan Thế Hùng 潘世雄, “Sử tịch trung “nghi đệ” chi thuyết khảo thích/ kiêm thích Quảng Tây Ung Ninh Đỉnh Sư sơn tân thạch khí thời đại di chỉ chi giải táng,” 史籍中‘宜弟’之說考釋———兼釋廣西邕寧頂螄山新石器時代遺址肢解葬 đăng trong tạp chí QUẢNG TÂY DÂN TỘC NGHIÊN CỨU 廣西民族研究 số 4 (2004): 121–123) thì có lẽ Mặc tử đã ngộ nhận một phong tục tín ngưỡng của một số dân tộc khu vực châu Ung 邕 thuộc Quảng Tây: họ chặt nhỏ (chi giải 肢解) một đứa bé đã chết trước khi chôn cất vì sợ vong linh của đứa bé đó do chết oan nên sẽ trở về báo oán bằng cách sẽ gây hại cho các đứa em nó sau này. Giải thích này nghe hợp lý hơn vì phù hợp với những dữ liệu về khảo cổ tôn giáo học ở nhiều nơi khác trên thế giới. TS. Dương Ngọc Dũng - Giám đốc Điều hành Thư Hiên Dịch Trường
popup

Số lượng:

Tổng tiền: