• BỎ MÈO - Kỷ niệm về cha
    18/ 03/ 2023
      BỎ MÈO Kỷ niệm về cha Haruki Murakami The New Yorker Magazine, ngày 7 tháng Mười năm 2019 Nguyễn Trung Kiên dịch     Tất nhiên, tôi có nhiều kỷ niệm về cha. Điều đó thật tự nhiên, vì chúng tôi cùng sống chung dưới một mái nhà không rộng rãi cho lắm, từ khi tôi sinh ra cho đến khi tôi rời nhà năm mười tám tuổi. Và, cũng như hầu hết trẻ em và các bậc phụ huynh, tôi tưởng tượng rằng, một số ký ức của tôi về cha, không quá nhiều, thật tràn đầy hạnh phúc. Nhưng những ký ức còn sót lại một cách sống động nhất trong tâm trí tôi bây giờ không thuộc loại nào cả; chúng liên quan đến các sự kiện thông thường hơn. Ví dụ như thế này: Khi chúng tôi đang sống ở Shukugawa (một phần của thành phố Nishinomiya, tỉnh Hyogo), một ngày nọ hai cha con đến bãi biển để bỏ một con mèo. Không phải mèo con, mà là một con mèo cái đã già. Tôi không thể nhớ được tại sao chúng tôi cần phải bỏ nó. Chúng tôi sống trong một căn nhà dành cho gia đình nhỏ với một khu vườn và rất nhiều chỗ dành cho mèo. Có lẽ đó là một con mèo hoang mà nhà tôi đã nuôi, vào thời điểm này nó đang mang thai và bố mẹ tôi cảm thấy họ không thể chăm sóc nó được nữa. Tôi không nhớ rõ lắm. Hồi ấy, bỏ mèo là chuyện thường, không ai chỉ trích. Ý định thiến mèo đực không được khuyến khích. Lúc đó, tôi đang ở lớp dưới trong trường tiểu học, tôi nghĩ đó là khoảng năm 1955, hoặc muộn hơn một chút. Gần nhà tôi là những tàn tích của một tòa nhà ngân hàng đã bị máy bay Mỹ ném bom - một trong những tàn tích vẫn còn thấy được của chiến tranh. Cha con tôi lên đường vào buổi chiều mùa hè để bỏ con mèo lại bãi biển. Ông đạp chiếc xe đạp của mình, còn tôi ngồi trên xe, cầm một chiếc hộp có con mèo bên trong. Chúng tôi đi dọc theo sông Shukugawa, đến bãi biển ở Koroen, đặt chiếc hộp xuống giữa những lùm cây đó, và quay về nhà mà không hề nhìn lại. Bãi biển cách nhà phải đến hai cây số. Về đến nhà, hai cha con xuống xe – rồi thảo luận về việc chúng tôi cảm thấy tiếc cho con mèo như thế nào, nhưng chúng tôi có thể làm được gì hơn? - và khi chúng tôi mở cửa, con mèo chúng tôi vừa bỏ rơi ở đó đã chào chúng tôi bằng tiếng meo meo thân thiện, đuôi vẫy cao. Chúng tôi đã thua nó. Bởi còn là một đứa trẻ, tôi không thể hiểu nó đã làm điều đó như thế nào. Rốt cuộc, chúng tôi đã đi xe đạp cơ mà. Cha cũng bối rối. Hai cha con đứng đó một lúc, không nói nên lời. Dần dần, ánh mắt kinh ngạc trống rỗng của cha chuyển thành sự ngưỡng mộ và cuối cùng, trở nên nhẹ nhõm. Và con mèo đã trở lại làm thú cưng của chúng tôi. Chúng tôi luôn nuôi mèo trong nhà, và rất thích chúng. Tôi không có anh chị em, nên mèo và sách là những người bạn thân nhất của tôi khi tôi lớn lên. Tôi thích ngồi trên hiên nhà phơi nắng với một con mèo. Vậy tại sao chúng tôi phải đưa con mèo đó đến bãi biển và từ bỏ nó? Tại sao tôi không phản đối? Những câu hỏi này cùng với câu hỏi về cách con mèo đã chiến thắng chúng tôi để trở về nhà vẫn chưa được trả lời. *   Một kỷ niệm khác của tôi về cha là thế này: Mỗi buổi sớm mai, trước bữa sáng, cha sẽ ngồi rất lâu trước bàn thờ Phật trong nhà, chăm chú đọc kinh, mắt nhắm lại. Nói chính xác, đó không phải là một bàn thờ Phật thông thường, mà là một hộp kính hình trụ nhỏ với một bức tượng Bồ Tát được chạm khắc tuyệt đẹp bên trong. Tại sao cha đọc kinh mỗi sáng trước hộp kính đó, thay vì trước một bàn thờ Phật tiêu chuẩn? Đó là một trong những câu hỏi mà tôi chưa thể trả lời. Dù sao đi nữa, đây rõ ràng là một nghi thức quan trọng đối với cha, một nghi thức đánh dấu sự khởi đầu mỗi ngày. Theo như tôi biết, cha không bao giờ thất bại trong việc thực hiện cái mà ông gọi là “bổn phận” này của mình, không ai được phép can thiệp. Ông thực hiện với sự tập trung cao độ. Đơn giản chỉ cần gọi đó là “một thói quen hàng ngày”. Một lần, khi còn là một đứa trẻ, tôi đã hỏi cha rằng ông đang cầu nguyện cho ai. Ông trả lời rằng mình đang cầu nguyện những người đã chết trong chiến tranh. Những người lính Nhật Bản đồng đội của ông đã hi sinh, cũng như người lính Trung Quốc vốn là kẻ thù của họ. Cha không giải thích, và tôi cũng không gạn hỏi. Tôi nghĩ rằng nếu cứ gạn hỏi, có thể cha sẽ mở lòng hơn. Nhưng tôi đã không làm thế. Hẳn phải có một cái gì đó trong tôi ngăn cản tôi tiếp tục tục câu chuyện này. *   Tôi cần giải thích một chút về xuất xứ của cha. Ông nội tôi, Benshiki Murakami, sinh ra trong một gia đình thuần nông ở tỉnh Aichi. Giống như các cậu bé khác, ông được gửi đến một ngôi chùa gần đó để đào tạo thành một tu sĩ. Ông là một học sinh chăm chỉ, và sau khi học nghề tại nhiều ngôi chùa khác nhau, ông được bổ nhiệm làm trụ trì của chùa Anyoji, ở Kyoto. Ngôi chùa này có bốn hoặc năm trăm gia đình trong giáo xứ của nó, vì vậy đây là một bước tiến dài đối với ông. Tôi lớn lên ở khu vực Osaka-Kobe, vì vậy tôi không có nhiều cơ hội đến thăm ông tại ngôi chùa ở Kyoto này, nên tôi ít có kỷ niệm về ông. Tuy nhiên, tôi hiểu ông là người tự do, không bị ngăn cấm, nổi tiếng với tình yêu dành cho rượu. Như tên ông đã ngụ ý, chữ ‘ben’ trong tên thật của ông có nghĩa là ‘tài hùng biện’; ông là tu sĩ đầy năng lực, và rõ ràng là nổi tiếng. Tôi nhớ rằng ông rất cuốn hút, với giọng nói trầm hùng. Ông có sáu người con trai (không có con gái nào), và là một người khỏe mạnh, nhiệt tình, nhưng, thật đáng buồn, năm ông bảy mươi tuổi, lúc tám giờ rưỡi sáng ngày 25 tháng 8 năm 1958, ông bị tàu hỏa đâm khi đang băng qua đường ray của tuyến Keishin, kết nối giữa Kyoto (Misasagi) và Otsu, và qua đời. Đó là một tuyến giao cắt giữa đường sắt và đường bộ không có người gác, chạy dọc theo Yamada-cho, Kitahanayama, Yamashina, ở Higashiyama-ku. Một cơn bão lớn đã đổ bộ vào vùng Kinki trong ngày định mệnh này; trời đang mưa rất to, ông mang theo chiếc ô, và có lẽ ông đã không nhìn thấy con tàu chạy qua một khúc cua. Ông cũng hơi lãng tai. Cái đêm gia đình tôi nhận được tin ông mất, tôi nhớ rằng cha đã nhanh chóng chuẩn bị đi đến Kyoto, và mẹ tôi khóc, bám lấy ông, cầu xin: “Dù có làm gì, nhưng xin anh đừng đồng ý tiếp tục trụ trì ngôi chùa đó”. Lúc đó tôi chỉ mới chín tuổi, nhưng hình ảnh này khắc sâu trong bộ não tôi, giống như một cảnh quay đáng nhớ từ một bộ phim đen trắng. Cha im lặng gật đầu mà không biểu cảm gì. Tôi nghĩ rằng cha đã quyết định. Tôi có thể cảm nhận điều ấy. * Cha tôi sinh ngày 1 tháng 12 năm 1917, tại Awata-guchi, Sakyo-ku, ở Kyoto. Khi còn là một đứa trẻ, thời kỳ dân chủ Taisho yên bình đã gần đến, sau đó là cuộc Đại khủng hoảng ảm đạm, rồi tiếp theo là vũng lầy của Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai, và cuối cùng là thảm kịch của cuộc Đại chiến thế giới lần thứ Hai. Rồi tiếp đến thời kỳ hoang mang và nghèo đói của giai đoạn hậu chiến, khi thế hệ của cha phải vật lộn để sinh tồn. Như tôi đã đề cập, cha là một trong sáu anh em. Ba trong số họ đã phải đi lính và chiến đấu trong Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ Hai, và thật kỳ diệu, tất cả đã sống sót để trở về mà không phải chịu thương tích nghiêm trọng nào. Hầu như tất cả sáu người con trai đều ít nhiều đủ tư cách làm tu sĩ. Họ đã có kiểu giáo dục đó. Ví dụ, cha tôi giữ một cấp bậc thấp giống như một tu sĩ, gần tương đương với cấp bậc trung úy thứ hai trong quân đội. Vào mùa hè, trong mùa obon bận rộn - lễ hội hàng năm để tôn vinh tổ tiên của gia đình - sáu anh em họ sẽ tập trung tại Kyoto và cùng viếng thăm giáo dân xung quanh ngôi chùa. Vào buổi tối, họ cùng nhau uống rượu. Sau khi ông qua đời, có một vấn đề cấp bách là ai sẽ đảm nhận các nhiệm vụ của vị trụ trì tại chùa. Hầu hết các con trai đã kết hôn và có việc làm. Thật sự mà nói, không ai ngờ ông tôi qua đời sớm hay đột ngột như vậy. Bác cả, Shimei Murakami, từng mong ước thành bác sĩ thú y, nhưng sau chiến tranh, ông đã nhận một công việc tại phòng thuế ở Osaka và bây giờ đang là phó phòng, trong khi cha tôi, người con trai thứ hai, đang dạy tiếng Nhật tại trường trung học cơ sở và trung học phổ thông Koyo Gakuin ở vùng Kansai. Các anh em khác cũng là giáo viên, hoặc đang học trong các trường cao đẳng Phật học. Hai trong số các anh em đã được các gia đình khác nhận nuôi và đã đổi tên họ, một thông lệ thời ấy. Họ đã gặp nhau để thảo luận về tình huống không ai tình nguyện nhận nhiệm vụ trụ trì này. Trở thành trụ trì của một ngôi chùa lớn như thế không phải là việc dễ dàng, và sẽ là gánh nặng lớn cho gia đình của bất kỳ ai. Hai người anh em kia biết điều này quá rõ. Và bà tôi, lúc đó là một góa phụ, là kiểu người nghiêm khắc và chín chắn; bất kỳ người vợ nào cũng cảm thấy khó khăn khi phục vụ với tư cách là vợ của người trụ trì một ngôi chùa. Mẹ tôi là con gái lớn của một gia đình thương gia có tiếng ở Senba, Osaka. Bà là một người phụ nữ sang trọng, hoàn toàn không phải là người phù hợp với tư cách là vợ của một bậc trụ trì tại Kyoto. Vì vậy, không có gì lạ khi bà bám lấy cha, trong nước mắt, cầu xin ông đừng đồng ý trụ trì ngôi chùa. Ít nhất theo, quan điểm của tôi, bởi là con trai của ông nội, nên cha dường như là người thẳng thắn, có trách nhiệm. Ông không thừa hưởng thói tự phụ của cha mình (ông thuộc kiểu người hay lo lắng), nhưng cách cư xử tốt bụng và cách nói chuyện của ông khiến người khác thoải mái. Ông cũng có một đức tin chân thành. Ông có thể trở thành một tu sĩ tốt, và tôi nghĩ rằng ông biết điều đó. Tôi đoán là nếu độc thân, ông sẽ không phản đối ý tưởng đó lắm. Nhưng ông có một cái gì đó khiến mình không thể tự thỏa hiệp - gia đình nhỏ của ông. Cuối cùng, bác Shimei đã rời bỏ công việc của mình để nhận chức trụ trì. Shimei đồng ý trở thành tu sĩ trụ trì vì ý thức về nghĩa vụ của người con trai cả. Tôi nói ông đồng ý phần nhiều là bởi ông không có lựa chọn nào khác. Hồi đó, giáo dân có ảnh hưởng lớn hơn nhiều so với bây giờ, và có lẽ họ sẽ không để ông thoái thác trách nhiệm. *   Khi còn là cậu bé, cha được cử đi học việc tại một ngôi chùa ở đâu đó tại Nara. Với sự hiểu biết của mình, lẽ ra ông đã được nhận vào cộng đồng các tu sĩ tại Nara. Tuy nhiên, sau khi học xong, ông trở về nhà tại Kyoto. Điều này rõ ràng là vì thời tiết lạnh đã ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của ông, nhưng lý do chính là dường như là ông không thể thích nghi với môi trường mới. Sau khi trở về nhà, ông vẫn sống như một đứa con trai của bố mẹ mình. Nhưng tôi có cảm giác rằng trải nghiệm cũ vẫn còn với ông, như một vết thương lòng sâu sắc. Tôi không thể chỉ ra bất kỳ bằng chứng cụ thể nào về điều này, nhưng có điều gì đó về ông khiến tôi cảm thấy như vậy. Bây giờ, hồi tưởng lại nét biểu cảm trên khuôn mặt của cha - lúc đầu rất ngạc nhiên, rồi bị ấn tượng, sau đó nhẹ nhõm vì con mèo mà chúng tôi đã bỏ rơi đã trái ý chúng tôi để trở về nhà. Tôi chưa bao giờ trải nghiệm bất cứ điều gì như thế. Tôi được nuôi dạy một cách khá dễ thương – là con một trong một gia đình bình thường. Vì vậy, tôi không thể hiểu, ở mức độ thực tế hay cảm xúc, loại vết sẹo tâm linh nào có thể xảy ra khi một đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi. Tôi chỉ có thể tưởng tượng nó ở mức độ hời hợt. Đạo diễn người Pháp, François Truffaut, nói về việc bị buộc phải sống xa cha mẹ khi còn nhỏ. Và trong phần còn lại của cuộc đời, ông đã theo đuổi chủ đề ‘từ bỏ con cái’ này trong các bộ phim của mình. Hầu hết mọi người đều có thể có một số trải nghiệm đau buồn, dù không thể nói thành lời, nhưng cũng không thể lãng quên. Cha tốt nghiệp trường trung học cơ sở Higashiyama (tương đương với một trường trung học ngày nay) vào năm 1936 và vào Trường Nghiên cứu Seizan lúc mười tám tuổi. Các sinh viên thường được miễn nghĩa vụ quân sự bốn năm, nhưng do quên chuẩn bị một số giấy tờ hành chính, nên vào năm 1938, khi mới hai mươi tuổi, ông bị gọi đi lính. Đó là một sai sót trong thủ tục hành chính, nhưng một khi sai sót đó xảy ra, bạn không thể sửa đổi theo cách của mình. Tệ quan liêu và quân đội là như thế. Mệnh lệnh phải được tuân thủ. * Cha thuộc biên chế của Trung đoàn Bộ binh 20, thuộc Sư đoàn 16 (Sư đoàn Fushimi). Hạt nhân của Sư đoàn 16 sau đó bao gồm bốn trung đoàn bộ binh: Trung đoàn bộ binh 9 (Kyoto), Trung đoàn bộ binh 20 (Fukuchiyama), Trung đoàn bộ binh 33 (thành phố Tsu, tỉnh Mie) và Trung đoàn bộ binh 38 (Nara). Không rõ tại sao cha tôi, đến từ thành phố Kyoto, lại bị chỉ định không được vào Trung đoàn 9 tại địa phương mà thay vào đó là Trung đoàn Fukuchiyama ở xa. Ít nhất đây là cách tôi hiểu trong thời gian dài, nhưng khi nhìn sâu hơn vào quá khứ của cha, tôi nhận thấy mình đã nhầm. Trên thực tế, cha không thuộc Trung đoàn Bộ binh 20 mà thuộc Trung đoàn vận tải 16, cũng là một phần của Sư đoàn 16. Và trung đoàn này không ở Fukuchiyama mà có đóng tại Fukakusa/Fushimi, tại thành phố Kyoto. Vậy tại sao tôi lại có ấn tượng rằng cha thuộc Trung đoàn Bộ binh 20? Tôi sẽ nói về điểm này sau. Trung đoàn Bộ binh 20 được biết đến là một trong những lực lượng đầu tiên đến Nam Kinh sau khi thành phố này thất thủ. Các đơn vị quân đội từ Kyoto đến thường được nhìn nhận là có học và hòa nhã, nhưng những hành động của trung đoàn đặc biệt này đã đã khiến nó bị nhắc tới cùng với sự tàn bạo đẫm máu đến đáng ngạc nhiên. Trong một thời gian dài, tôi sợ rằng cha đã tham gia vào cuộc thảm sát Nam Kinh, và tôi miễn cưỡng điều tra các chi tiết. Ông qua đời vào tháng Tám năm 2008, ở tuổi chín mươi, nhưng tôi chưa từng hỏi, mà ông cũng chưa từng kể về điều đó. Cha bị gọi đi lính vào tháng 8 năm 1938. Cuộc hành quân đầy tai tiếng của Trung đoàn Bộ binh 20 vào Nam Kinh diễn ra vào năm trước, vào tháng 12 năm 1937, vì vậy cha đã bỏ lỡ gần một năm. Khi biết được điều này, đó là một sự giải thoát to lớn cho tôi, như thể một gánh nặng đã được trút bỏ. Sau khi tham gia khóa huận luyện thứ hai trong Trung đoàn vận tải 16, cha lên tàu chuyển quân tại cảng Ujina vào ngày 3 tháng Mười năm 1938 và đến Thượng Hải vào ngày 6 tháng Mười. Ở đó, trung đoàn của ông đã hợp với Trung đoàn Bộ binh 20. Theo thư mục thời chiến của Quân đội, Trung đoàn Vận tải 16 chủ yếu được giao nhiệm vụ tiếp tế và bảo đảm an ninh. Nếu theo dõi các lịch trình hành quân của Trung đoàn, ta sẽ thấy các lần hành quân của nó cách nhau một quãng thời gian rất xa. Đối với các đơn vị chủ yếu phải hành quân bộ, và không đủ nhiên liệu - ngựa là phương thức vận chuyển chính – thì việc hành quân hẳn đã phải cực kỳ khó khăn. Tình hình ở chiến trường thật thảm khốc: nguồn cung cấp hậu cần không thể đến đó; thiếu hụt nghiêm trọng về lương thực thực phẩm và đạn dược; quân phục nam bị rách; và tình trạng mất vệ sinh dẫn đến sự bùng phát của dịch tả và các bệnh truyền nhiễm khác. Nhật Bản, với sức mạnh hạn chế của mình, không thể kiểm soát một quốc gia rộng lớn như Trung Quốc. Mặc dù Quân đội Nhật Bản đã có thể liên tục giành quyền kiểm soát quân sự tại các thành phố, nhưng thực tế, nó không có khả năng chiếm toàn bộ các khu vực. Các cuốn hồi ký được viết bởi những người lính trong Trung đoàn Bộ binh 20 cho thấy một bức tranh rõ ràng về tình hình đáng thương đến thế nào. Quân đội vận tải thường không trực tiếp tham gia chiến đấu ở tuyến đầu, nhưng điều đó không có nghĩa là họ an toàn. Vì họ chỉ được trang bị vũ khí nhẹ (thường chỉ bằng lưỡi lê), nên khi kẻ thù tấn công từ phía sau, họ vẫn phải chịu tổn thất lớn. *   Cha đã kể cho tôi về nghe cuộc chiến chỉ một lần, khi ông kể về cách đơn vị của ông xử tử một tù binh Trung Quốc. Tôi không biết lý do gì khiến ông kể với tôi điều này. Nó đã xảy ra từ rất lâu rồi, một loại ký ức dễ bị lãng quên với bối cảnh không rõ ràng. Tôi vẫn còn học lớp dưới ở trường tiểu học. Ông chỉ đơn giản kể lại vụ xử tử đã diễn ra thế nào. Mặc dù người tù binh Trung Quốc biết rằng mình sẽ bị giết, nhưng anh đã không chống cự, không tỏ ra sợ hãi, chỉ ngồi im lặng với đôi mắt nhắm nghiền. Và anh đã bị chặt đầu. Cha nói với tôi, thái độ của người đàn tù binh này thật mẫu mực. Ông dường như có sự tôn trọng sâu sắc dành cho người lính Trung Quốc này. Tôi không biết liệu ông chỉ đứng xem những người lính khác trong đơn vị mình thực hiện vụ hành quyết hay không, hay chính ông bị buộc phải trực tiếp tham gia vụ hành quyết này. Bây giờ không có cách nào để xác định liệu điều này có phải là do trí nhớ của tôi không rõ ràng hay liệu cha đã mô tả vụ việc bằng những khái niệm mơ hồ. Nhưng có một điều LÀ, rõ ràng, những trải nghiệm về cuộc hành quyết ấy đã để lại cảm giác đau khổ và dằn vặt suốt thời gian dài trong linh hồn của người từng muốn trở thành tu sĩ lại buộc phải trở thành người lính này. Vào thời điểm đó, không có gì lạ khi cho phép những người lính và tân binh mới thực hành giết chóc bằng cách xử tử các tù binh Trung Quốc. Tất nhiên, giết các tù binh không có vũ trang là vi phạm luật pháp quốc tế, nhưng quân đội Nhật Bản trong thời kỳ đó dường như coi việc hành quyết tù binh là điều hiển nhiên. Có khả năng các đơn vị quân đội không có đủ nguồn lực để chăm sóc các tù bình. Hầu hết các vụ hành quyết này được thực hiện bằng cách bắn chết tù nhân hoặc bằng cách đâm anh ta bằng lưỡi lê, nhưng tôi nhớ lại cha nói với tôi rằng vụ hành quyết đặc biệt này đã sử dụng một thanh kiếm. Khỏi cần phải nói, câu chuyện của cha về vụ chặt đầu máu lạnh bởi một người đàn ông với thanh kiếm này đã khắc sâu vào tâm trí còn non nớt của tôi. Nói một cách khác, gánh nặng mà cha đã phải mang - một chấn thương, theo thuật ngữ ngày nay - được truyền lại, một phần, cho tôi, con trai ông. Đó là cách mà mối liên kết giữa người với người vận hành, là cách mà lịch sử vận hành. Đó là một hành động chuyển giao và còn là một nghi lễ. Cha hầu như không nói một lời nào về những trải nghiệm thời chiến của mình. Không chắc là ông muốn nhớ vụ hành quyết này hay nói về nó. Tuy nhiên, ông hẳn phải cảm thấy có một nhu cầu cấp bách để liên hệ câu chuyện này với con trai - máu thịt của chính mình, ngay cả khi điều này có nghĩa là nó sẽ vẫn là vết thương không lành cho cả hai chúng tôi. *   Trung đoàn Bộ binh 20, cùng với trung đoàn của cha, trở về Nhật Bản vào ngày 20 tháng 8 năm 1939. Sau một năm đi lính, cha tiếp tục học tại trường Seizan. Vào thời điểm đó, một lệnh gọi đi lính kéo dài hai năm, nhưng vì một số lý do, ông chỉ phục vụ trong quân đội một năm. Có lẽ quân đội đã tính đến thực tế rằng ông đã là một sinh viên trước khi bị gọi đi lính. Sau khi phục vụ, cha tiếp tục nhiệt tình sáng tác thơ haiku. Bài thơ này, được viết vào tháng Mười năm 1940, có lẽ được lấy cảm hứng từ chuyến viếng thăm tốt đẹp của Đoàn Thanh niên Hitler tới Nhật Bản: ‘Họ kêu gào, hát lên, để đưa con nai đến gần hơn, Đoàn Thanh niên Hitler’ Về mặt cá nhân, tôi thực sự thích bài thơ haiku này, ghi lại một khoảnh khắc mơ hồ trong lịch sử thật tinh tế và khác thường. Có một sự tương phản nổi bật giữa cuộc xung đột đẫm máu ở châu Âu và con nai (có lẽ là con nai nổi tiếng ở Nara). Những thanh niên trong Đoàn Thanh niên Hitler, tận hưởng chuyến thăm ngắn ngày tới Nhật Bản, rất có thể đã bị hi sinh trong mùa Đông bại trận đầy cay đắng tại Mặt trận phía Đông. Tôi cũng bị cuốn hút bởi bài thơ này: ‘Tưởng niệm ngày mất của Issa, tôi ngồi đây với những bài thơ buồn của chàng’ Thế giới được mô tả thật yên tĩnh và thanh bình, nhưng vẫn có một cảm giác hỗn loạn kéo dài. Cha luôn yêu văn chương, và sau khi trở thành giáo viên, ông đã dành nhiều thời gian để đọc sách. Ngôi nhà của chúng tôi đầy ắp sách. Điều này có thể đã ảnh hưởng đến tôi ở tuổi thiếu niên, khi tự tôi gia tăng niềm đam mê đọc sách của mình. Cha tốt nghiệp với bằng danh dự từ Trường Seizan, và vào tháng 3 năm 1941, ông vào Khoa Văn học tại Đại học Hoàng gia Kyoto. Không hề dễ dàng để vượt qua kỳ thi tuyển sinh vào một trường hàng đầu như Đại học Hoàng gia Kyoto sau khi trải qua nền giáo dục Phật giáo để trở thành một tu sĩ. Mẹ thường nói với tôi rằng: “Cha con rất thông minh”. Tôi không biết cha thông minh thế nào. Thành thật mà nói, đó không phải là một câu hỏi mà tôi quan tâm nhiều. Đối lĩnh vực văn chương của tôi, trí thông minh ít quan trọng bằng một trực giác sắc bén. Nhưng thực tế là cha luôn đạt điểm xuất sắc ở trường. Ngược với cha, tôi chưa bao giờ có hứng thú học hành; điểm số của tôi mờ nhạt từ đầu đến cuối. Tôi là kiểu người háo hức theo đuổi những thứ tôi quan tâm mà không để bị làm phiền với bất cứ điều gì khác. Điều đó đúng với tôi khi tôi còn là sinh viên, và đến giờ nó vẫn đúng. Điều này khiến cha thất vọng, cha luôn là người tôi tự so sánh với chính mình vào thời điểm ông bằng tuổi tôi. Hẳn ông đã nghĩ: “Con được sinh ra trong thời đại hòa bình này. Con có thể học bao nhiêu tùy thích, không có gì cản trở. Vậy tại sao con không thể nỗ lực nhiều hơn?” Tôi nghĩ cha muốn tôi đi theo con đường mà ông đã không thể đi trọn vẹn bởi chiến tranh. Nhưng tôi không thể sống theo mong đợi của cha. Tôi không bao giờ có thể tự học theo cách cha mong muốn. Tôi thấy hầu hết các lớp học ở trường gây phiền não cho tôi, hệ thống trường học quá đồng đều và mang tính áp chế. Điều này khiến cha cảm thấy thất vọng kinh niên, và tôi cảm thấy đau khổ kinh niên (cùng với một sự tức giận nhất định mà không có lý do). Khi tôi trở thành một tiểu thuyết gia, ở tuổi ba mươi, cha thực sự hài lòng, nhưng vào thời điểm đó, mối quan hệ của chúng tôi đã trở nên xa cách và lạnh lùng. Ngay cả bây giờ tôi cũng mang theo bên mình cảm giác - hay có lẽ là cặn bã của cảm giác - rằng tôi là nỗi thất vọng của cha, tôi đã làm ông thất vọng. Mỗi khi hồi tưởng lại thời thiếu niên của mình, tôi lại thấy không thoải mái với mọi thứ trong nhà, bởi cảm giác tội lỗi liên tục dâng lên trong tôi tôi. Tôi vẫn gặp ác mộng khi trong giấc mơ, tôi phải làm bài kiểm tra ở trường và không thể trả lời một câu hỏi nào. Thời gian làm bài kiểm tra hết dần trong khi tôi không làm được gì cả, mặc dù tôi nhận thức rõ rằng việc trượt bài kiểm tra sẽ gây ra hậu quả lớn. Tôi thường thức dậy, đầm đìa mồ hôi lạnh. Nhưng, hồi đó, ôm chặt lấy bàn học, hoàn thành hết bài tập về nhà và đạt điểm cao trong các bài kiểm tra có sức hấp dẫn ít hơn nhiều so với việc đọc những cuốn sách tôi thích, nghe những bản nhạc tôi thích, chơi thể thao hoặc đánh bài với bạn bè và hẹn hò với các cô gái. Tất cả những gì chúng ta có thể làm là hít thở không khí của thời kỳ chúng ta sống, mang theo những gánh nặng đặc biệt của thời đại và lớn lên trong những giới hạn đó. Đó đơn giản là cách mà đời sống diễn ra. * Cha tốt nghiệp Trường Nghiên cứu Seizan vào mùa Xuân năm 1941, và vào cuối tháng Chín ông nhận được một lệnh nhập ngũ đặc biệt. Vào ngày 3 tháng Mười, ông trở lại với bộ quân phục, đầu tiên là ở Trung đoàn Bộ binh 20 (Fukuchiyama), và sau đó là Trung đoàn Vận tải 53, một phần của Sư đoàn 53. Năm 1940, Sư đoàn 16 đã đóng quân lâu dài ở Mãn Châu, và trong khi đó, Sư đoàn 53 ở Kyoto được tổ chức để thay thế. Rất có thể, sự nhầm lẫn của sự tái tổ chức đột ngột này giải thích cho lý do tại sao cha tôi ban đầu được đặt trong Trung đoàn Fukuchiyama. (Như tôi đã nói, tôi luôn bị thuyết phục nhầm rằng ông đã ở Trung đoàn Fukuchiyama ngay từ lần nhập ngũ đầu tiên). Sư đoàn 53 được gửi đến Miến Điện vào năm 1944, trong Trận Imphal, và, từ tháng Mười Hai năm 1944 đến tháng Ba năm 1945, gần như bị người Anh tàn sát hết trong Trận chiến sông Irrawaddy. Nhưng khá bất ngờ, vào ngày 30 tháng 11 năm 1941, cha ra quân và được phép trở lại cuộc sống dân sự. Ngày 30 tháng 11 là tám ngày trước cuộc tấn công Trân Châu Cảng. Sau cuộc tấn công đó, tôi không tin rằng quân đội sẽ đủ rộng lượng để cho ông ra quân. Như cha tôi đã nói, cuộc đời của ông đã được cứu bởi một sĩ quan. Vào thời điểm đó, cha là lính binh nhất. Ông được một sĩ quan cao cấp triệu tập và nói rằng: “Cậu đang theo học tại Đại học Hoàng gia Kyoto, và sẽ phục vụ đất nước tốt hơn bằng cách tiếp tục việc học của cậu hơn là một người lính”. Liệu có một sĩ quan đủ thẩm quyền để đưa ra quyết định này? Tôi không biết. Thật khó để quan niệm rằng một sinh viên ngành nhân văn như cha tôi lại được coi là bằng cách nào đó lại có thể phục vụ đất nước bằng cách trở lại trường đại học và nghiên cứu về thơ haiku. Phải có những yếu tố khác trong chuyện này. Dù bằng cách nào, cha lại được ra quân và lại trở thành người tự do. Ít nhất đó là câu chuyện tôi đã nghe, hoặc đã được ký ức ghi lại, khi còn nhỏ. Thật không may, nó không phù hợp với thực tế. Hồ sơ của Đại học Hoàng gia Kyoto chỉ ra rằng cha tôi đăng ký vào Khoa văn học vào tháng 10 năm 1944. Có lẽ trí nhớ của tôi đã nhầm lẫn. Hoặc có thể mẹ tôi đã kể cho tôi câu chuyện này, và bà nhớ sai. Và bây giờ không có cách nào để xác minh đúng sai. Theo hồ sơ, cha vào khoa văn học của Đại học Hoàng gia Kyoto vào tháng 10 năm 1944 và tốt nghiệp vào tháng 9 năm 1947. Nhưng tôi không biết ông đã ở đâu, hoặc đã làm gì, trong độ tuổi từ hai mươi ba và hai mươi sáu tuổi, ba năm, sau khi ông được ra quân và trước khi ông theo học tại Đại học Hoàng gia Kyoto. Ngay sau khi cha tôi được ra quân, Thế chiến thứ Hai đã nổ ra ở Thái Bình Dương. Trong suốt chiến tranh, Sư đoàn 16 và Sư đoàn 53 về cơ bản bị xóa sổ. Nếu không được thả ra, nếu phải chuyển quân cùng với một trong những đơn vị cũ của ông, ông gần như chắc chắn đã hi sinh trên chiến trường, và dĩ nhiên, bây giờ đã không có tôi. Bạn có thể gọi đó là may mắn, nhưng giữ được mạng sống của chính mình trong khi những đồng đội cũ của ông hi sinh hết đã khiến ông đau đớn và thống khổ kinh khủng. Bây giờ tôi càng hiểu lý do tại sao ông nhắm mắt lại và đọc kinh Phật mỗi sáng trong phần đời còn lại của mình. (..)  *    Tôi còn có thêm một ký ức tuổi thơ nữa liên quan đến một con mèo. Tôi đã đưa chi tiết này vào một trong những cuốn tiểu thuyết của mình, nhưng muốn gợi lại ký ức đó ở đây một lần nữa ở đây, như một điều gì đó đã thực sự xảy ra. Chúng tôi có một chú mèo con màu trắng. Tôi không nhớ chúng tôi đã có nó thế nào, bởi vì hồi đó luôn có những con mèo đến và đi trong nhà của chúng tôi. Nhưng tôi vẫn nhớ bộ lông của chú mèo con này xinh xắn, dễ thương như thế nào. Một buổi tối, khi tôi đang ngồi trên hiên nhà, con mèo này đột nhiên chạy thẳng lên cây thông cao lớn, xinh đẹp trong khu vườn của chúng tôi. Gần như là nó muốn thể hiện với tôi rằng nó dũng cảm và nhanh nhẹn như thế nào. Tôi không thể tin được nó nhanh nhẹn đi lên thân cây và biến mất vào các cành cây trên cao. Một lúc sau, chú mèo con bắt đầu kêu meo meo một cách đáng thương, như thể nó đang cầu xin sự giúp đỡ. Nó không gặp khó khăn gì khi trèo lên cao như vậy, nhưng có vẻ sợ hãi khi trèo xuống. Tôi đứng dưới gốc cây nhìn lên, nhưng không thể thấy con mèo. Tôi chỉ có thể nghe thấy tiếng khóc yếu ớt của nó. Tôi gọi cha và kể ông những gì đã xảy ra, hy vọng rằng ông có thể tìm ra cách cứu chú mèo con. Nhưng ông không thể làm gì được; nó đang ở chỗ quá cao và cái thang bắc không tới. Con mèo con kêu meo meo khi Mặt Trời bắt đầu lặn. Bóng tối cuối cùng cũng bao trùm cây thông. Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra với con mèo nhỏ đó nữa. Sáng hôm sau, khi thức dậy, tôi không thể nghe thấy nó khóc nữa. Tôi đứng dưới gốc cây và gọi tên chú mèo con, nhưng không có hồi âm. Chỉ có sự im lặng. Có lẽ con mèo tự đi xuống trong đêm và đi đâu đó (nhưng ở đâu?). Hoặc có thể, không thể trèo xuống, nó đã bám vào cành cây, kiệt sức và ngày càng yếu đi cho đến khi chết. Tôi ngồi đó trên hiên nhà, nhìn lên cái cây, với những mường tượng này xuất hiện trong tâm trí. Nghĩ rằng chú mèo con nhỏ bé màu trắng đó bám lấy cuộc sống thân yêu bằng móng vuốt nhỏ bé của nó, rồi co rúm lại và chết. Kinh nghiệm đã dạy tôi một bài học sống động: đi xuống khó hơn nhiều so với đi lên. Để khái quát từ điều này, bạn có thể nói rằng kết quả đã áp đảo nguyên nhân và vô hiệu hóa chúng. Trong một số trường hợp, một con mèo bị chết trong quá trình này; trong những trường hợp khác, sẽ là cái chết của một con người. * Dù sao đi nữa, thực sự chỉ có một điều mà tôi muốn trình bày ở. Một sự thật rõ ràng duy nhất: Tôi là một người con trai bình thường của một người đàn ông bình thường. Đó là điều hiển nhiên, tôi biết. Nhưng, khi tôi bắt đầu bắt nhận được sự thật đó, tôi thấy rõ rằng mọi thứ xảy ra trong cuộc đời của cha và trong cuộc đời tôi đều là tình cờ. Chúng ta sống cuộc sống của chúng ta theo cách này: xem những điều xảy ra do ngẫu nhiên, và sự tình cờ là thực tế duy nhất có thể hiện hữu. Nói cách khác, hãy tưởng tượng những hạt mưa rơi trên một dải đất rộng. Mỗi người trong chúng ta là một hạt mưa vô danh giữa vô số hạt mưa khác. Chắc chắn, mỗi chúng ta là một giọt mưa riêng lẻ, nhưng đó là một thứ hoàn toàn có thể thay thế. Tuy nhiên, hạt mưa đơn độc đó có những cảm xúc riêng, lịch sử riêng, nghĩa vụ riêng để tiếp tục lịch sử của nó. Ngay cả khi nó mất tính toàn vẹn cá nhân và được hấp thụ vào một cái gì đó mang tính tập thể. Hoặc có thể nói chính xác là bởi nó được hấp thụ vào một thực thể mang tính tập thể rộng lớn hơn. Thỉnh thoảng, tâm trí tôi đưa tôi trở về với cây thông thấp thoáng trong khu vườn nhà chúng tôi ở Shukugawa. Tôi nghĩ đến chú mèo con bé nhỏ đó, vẫn bám lấy cành cây, cơ thể nó chuyển dần thành xương trắng. Rồi tôi nghĩ về cái chết, và việc leo thẳng xuống mặt đất rất khó khăn, đến nỗi nó khiến đầu óc ta quay cuồng. ♦  
  • “EM CHỈ MUỐN TIỀN! ANH CHỈ MUỐN CÁCH MẠNG!”
    17/ 03/ 2023
    “EM CHỈ MUỐN TIỀN! ANH CHỈ MUỐN CÁCH MẠNG!” Liêu Diệc Vũ Nguyễn Trung Kiên dịch   Vài giờ trước buổi bình minh ngày Bốn tháng Sáu năm 1989, theo mệnh lệnh của chính phủ Trung Quốc, 200.000 binh lính đã bao vây Bắc Kinh rồi tiến vào trung tâm thành phố. Xe tăng và xe bọc thép của quân đội đã đi trước dọn đường, nghiền nát các chướng ngại vật, bắn vào đám đông, hạ gục con người như cỏ dại. Được phê chuẩn từ cấp lãnh đạo cao nhất, vụ thảm sát mà họ đã gây ra trong và xung quanh Quảng trường Thiên An Môn, chống lại những người biểu tình bất bạo động từ mọi tầng lớp trong dân chúng, đã làm chấn động cả thế giới. Hàng triệu người dân Trung Quốc bình thường và đầy mơ mộng đã biểu tình đòi dân chủ trong nhiều tuần trước đó, tại hàng chục thành phố trên khắp Trung Quốc, bao gồm Thành Đô - nơi tôi đang sinh sống, và là thủ phủ của tỉnh Tứ Xuyên, quê hương tôi. Ngay lập tức, những người biểu tình đã bị phân rã như những bầy chim đầy sợ hãi. Lệnh bắt người lan tràn khắp đất nước. Hàng trăm nghìn người đã chạy trốn ra nước ngoài và trở thành các Hoa kiều tị nạn chính trị. Trong khi đó, hàng chục nghìn người khác - hầu hết thuộc tầng lớp lao động, vốn có rất ít mối liên hệ với những người lãnh đạo phong trào dân chủ này - đã bị tống vào tù và trở thành chính trị phạm. Ba mươi năm sau, chế độ gây ra vụ thảm sát đó vẫn đang cầm quyền. Cho đến nay, vẫn chưa có ước tính đáng tin cậy về số người thiệt mạng trong ngày Bốn tháng Sáu đó. Con số chính thức của chính quyền về những người “vô tình bị thương” là 300 người hoặc ít hơn. Các cuộc khảo sát được tiến hành tại thời điểm đó bởi Hội Chữ thập đỏ Trung Quốc và các tổ chức thuộc phong trào sinh viên tại 100 bệnh viện quanh khu vực Bắc Kinh cho thấy khoảng 3.000 người đã bị giết. Các tài liệu được giải mật gần đây từ chính phủ Hoa Kỳ và Liên hiệp Anh cho thấy số người bị giết có thể lên tới hơn 10.000 người, số người bị thương thậm chí còn nhiều hơn. Làm thế nào để chúng ta có thể tìm thấy họ, những người đã nằm xuống? Vợ chồng ông bà Khương Bồi Khôn và Đinh Tử Lâm, sau khi con trai của họ bị giết ở gần quảng trường, đã liên lạc với hơn 200 thành viên của gia đình nạn nhân trong ngày Bốn tháng Sáu đó, và khởi động phong trào 'Các Bà Mẹ Thiên An Môn'. Trong ba mươi năm qua, họ chỉ có thể thu thập danh sách 202 người từ tất cả những người thiệt mạng. Tôn Lập Dũng, người đã trốn sang Úc, đã lập danh sách, một cách đầy khó khăn, và chỉ thống kê được vài trăm người đã bị cầm tù sau ngày Bốn tháng Sáu đó. Rồi nhiều năm tháng lại tiếp tục trôi đi. Những tên đồ tể đang chiến thắng. Các chu kỳ của sự đổ vỡ và đau khổ về đạo đức đầy hổ thẹn đã liên tục trồi lên tụt xuống sau cuộc đàn áp này: những tên đồ tể đó đã và vẫn đang tạo ra quá khứ, hiện tại và tương lai của chúng ta. Những tên bạo chúa này dường như lúc đầu đã giết người với đôi bàn tay run rẩy. Sau đó, khi chúng giết nhiều người hơn và nợ máu của chúng với nhân dân ngày một tăng thêm, thì việc giết người trở nên dễ dàng hơn, và chúng cảm thấy được tự do để làm tất cả những gì chúng muốn. Nền kinh tế Trung Quốc đã tăng trưởng với tốc độ điên cuồng. Mỗi làn sóng giết người mới dường như mang lại sự tăng trưởng kinh tế lớn trong giai đoạn tiếp theo. Một lý thuyết thời thượng cho rằng sự phát triển kinh tế sẽ thúc đẩy cải cách chính trị, và đến lượt chúng, các cuộc cải cách chính trị này sẽ buộc những tên bạo chúa đó phải tiến tới nền dân chủ. Đó là lý do tại sao các lệnh trừng phạt kinh tế của phương Tây đối với Trung Quốc sau ngày Bốn tháng Sáu đó đã sớm biến mất, với ngày càng nhiều quốc gia chờ đến lượt để thực hiện các giao dịch kinh doanh với những tên đồ tể đó. Họ đã làm điều này ngay cả khi những tên đồ tể đó liên tục bỏ tù và giết người, ngay cả khi các bể máu mới tiếp tục tràn qua những bể máu cũ. Chế độ chuyên chế mới thay thế chế độ chuyên chế cũ. Để sống sót và kiếm sống một cách khổ sở giữa chế độ chuyên chế đẫm máu như vậy, mọi người dân đã học cách sống mà không phải đối diện với những sự tự truy vấn về đạo đức. Sau sự kiện Thiên An Môn, khi mọi người dân giả vờ mất trí nhớ và chạy đua để kiếm tiền, thì những làn sóng đàn áp tàn bạo đã tiếp tục tấn công các gia đình của những người biểu tình vốn đã bị giết chết hoặc đang bị cầm tù, cùng với những người tập luyện các môn khí công - các thành viên phong trào Pháp Luân Công, các đảng viên của Đảng Dân chủ Trung Quốc, những dân oan đang kêu gào chính phủ phải giải quyết sự bất bình của họ đối với các quan chức địa phương, những người nông dân bị tước đoạt đất đai, những người công nhân bị sa thải, các luật sư bảo vệ nhân quyền, những tín đồ của các giáo phái ngầm, các nhà bất đồng chính kiến, các gia đình của những nạn nhân trong vụ động đất ở Tứ Xuyên, những người đã ký Linh Bát Hiến Chương, những người ủng hộ Cuộc Cách Mạng Cam trên mạng Internet, cùng với những người đấu tranh ở Tây Tạng, Nội Mông và Tân Cương. Trong khi đó, những người biểu tình trong ngày Bốn tháng Sáu đó, cuối cùng, đã được thả ra khỏi nhà tù, trong lặng lẽ, từng người một, mà không ai để ý. Người dân Trung Quốc đã trở thành nô lệ, đang chờ đợi và luôn sẵn sàng chịu đựng sự cướp bóc và chà đạp. Và Đảng Cộng sản nói với phương Tây: "Hãy đến với chúng tôi, xây dựng nhà máy, thành lập doanh nghiệp, xây dựng nhà cao tầng và thiết kế mạng máy tính. Miễn là không bàn về nhân quyền hoặc lựa chọn sự đối kháng chính trị, các ngài có thể làm bất cứ điều gì mình muốn. Ở đất nước của mình, các ngài phải tuân theo các luật lệ và đối phó với dư luận. Các ngài không được tự do làm theo ý mình. Các ngài nên đến đây và làm ăn với chúng tôi. Hãy đến đất nước của chúng tôi và cùng thực hiện những điều dơ bẩn với chúng tôi. Xin hãy tiếp tục hành động và ngăn dòng chảy của các con sông, làm vấy bẩn bầu không khí, nguồn thức ăn và nguồn nước ngầm của chúng tôi theo mong muốn của các ngài. Hãy sử dụng lao động giá rẻ của chúng tôi. Làm cho nhân dân chúng tôi làm việc ngày đêm. Giam cầm chúng trên các dây chuyền lắp ráp. Vào thời điểm hầu hết mọi người dân Trung Quốc mắc phải các loại bệnh ung thư khác nhau trong cơ thể, và cả trong tâm trí lẫn nhân cách của họ, bởi tất cả những ô nhiễm này, các ngài sẽ kiếm được nhiều tiền hơn, tại bãi rác lớn nhất thế giới, nơi sẽ luôn có nhiều cơ hội kinh doanh hơn bất cứ nơi nào khác trên toàn cầu". Nhân danh thương mại tự do, các công ty phương Tây đã thực hiện nhiều âm mưu với những tên đồ tể này. Chúng đã tạo ra một bãi rác. “Hệ thống các giá trị rác rưởi” với lợi nhuận trên hết của chúng đã gây ảnh hưởng hơn bao giờ hết. Người dân Trung Quốc đều biết rằng những kẻ đồ tể đã có tiền và đã có những lối thoát luôn sẵn sàng cho chúng, và cuối cùng chúng sẽ từ bỏ quê hương vốn đã bị găm đầy vết thương và đang dần tan rã. Tất cả bọn chúng sẽ di cư đến phương Tây để tận hưởng vùng đất tinh khiết tràn đầy ánh sáng Mặt Trời, sự tự do, sự bình đẳng và tình huynh đệ. Chúng thậm chí có thể cầu nguyện trong một nhà thờ ở đó, và cầu nguyện với chính đức Jesus đó - người bị đóng đinh vào Thập tự giá trong thời cổ đại bởi những tên bạo chúa - nhằm cứu chuộc lại tội ác của chúng. Và một khi người dân Trung Quốc nhận ra rằng các quan chức và doanh nhân tham nhũng, những điển hình vô liêm sỉ của “những kẻ chiến thắng ăn cả”, thì chúng sẽ không phải đối mặt với công lý hay nhận được sự ghẻ lạnh dành cho chúng ở phương Tây, và phương Tây sẽ bắt chước chúng. Chẳng bao lâu, mọi nơi trên thế giới sẽ đầy những kẻ Trung Quốc lừa đảo vừa ruồng bỏ quê hương mình - một bầy châu chấu sẽ thổi bay mặt đất và bầu trời, mang theo thảm họa tới bất cứ nơi nào chúng đến. Những đứa trẻ sinh năm vào 1989 giờ đã trưởng thành. Theo các tư tưởng về sự hài hòa âm dương của Phật giáo Trung Quốc, chúng có thể là sự tái sinh của những người đã chết trong ngày Bốn tháng Sáu đó, mặc dù hoàn toàn không có ký ức về tiền kiếp của mình. Mặt khác, hàng chục vạn chiến binh quả cảm trên đường phố chống lại sự chuyên chế, vốn đã bị tống vào tù năm 1989, dường như chỉ là một nắm cát ném xuống đại dương xoáy lốc gồm hơn một tỷ dân. * "Mọi thứ đều đang trở nên hỗn loạn. Người phụ nữ mà cậu từng biết đã thay đổi; nàng hoàn toàn tập trung vào việc phấn đấu cho tương lai. Sau đó, lại đến vấn đề việc chăm sóc con gái của chúng tớ và sự ‘không-có-gì-để-kể-với-bạn-bè’ của tớ. Vợ tớ phàn nàn rằng nàng đã hơn ba mươi tuổi mà vẫn không có nổi chốn dung thân – nơi nàng có thể gọi đó là ‘nhà mình’. Nàng nói tớ phải tìm cách kiếm tiền để nuôi con gái. Nàng coi thường quá khứ của chính chúng tớ – sự dũng cảm của nàng thời còn là nữ sinh. Tiếng sáo của tớ khiến nàng phát điên, vì vậy tớ không không thổi nữa. Ở đâu đó trong sâu thẳm tâm hồn mình, tớ vẫn yêu nàng, nhưng tớ không thể yêu nàng theo cách nàng cần. Thỉnh thoảng, khi ở nhà một mình, những cuộc đấu tranh tư tưởng nảy lửa diễn ra trong đầu tớ hàng giờ: “Mi là kẻ thua cuộc!”. “Mi là chồng cô ấy!”. “Mi là cha của con gái mi!”. “Em chỉ muốn tiền! Anh chỉ muốn cách mạng!”." Bức thư này đề ngày 26 tháng 3 năm 1994, gửi một người bạn cũ của tôi, Lưu Hà, người sau này sẽ kết hôn với chính trị phạm nổi tiếng Lưu Hiểu Ba. Đêm trước đó, tôi ngồi trên ban công lạnh cóng của mình hàng giờ. Tôi lấy cây sáo trúc của mình ra thổi, nhưng thấy chán nản kinh khủng, đến nỗi tôi không thể nghe được thanh âm của nó. Tôi chỉ khiến mình bị cảm lạnh. Ngay sau đó, vợ chồng tôi đã cãi nhau dữ dội, rồi ly hôn. Tôi trở về nhà cha mẹ tôi ở phía bên kia thành phố, nơi họ chăm sóc tôi như thể tôi vừa mới lại trở thành một đứa trẻ. Phần lớn trong thời gian này, tôi chỉ có một vài xu lẻ trong túi, thậm chí không đủ để rời khỏi căn hộ. Anh trai tôi, Đạt Mậu, đã cho tôi vay 10.000 nhân dân tệ, tất cả đều được tôi chuyển cho nàng để hỗ trợ nuôi con. Con gái tôi bây giờ đã hai mươi mốt tuổi. Trong hai mươi mốt năm đó, hai cha con tôi đã dành cho nhau chưa nổi hai tháng. Trước sự kiện Thiên An Môn, tôi là một nhà thơ nổi loạn, hay thay đổi và đầy bốc đồng, người thích lựa chọn những cuộc đối đầu và kể những câu chuyện cao siêu. Tôi đã giành được hơn hai mươi giải thưởng văn học nhà nước, và tôi nghĩ rằng một ngày nào đó tôi sẽ trở thành một nhà văn nổi tiếng thế giới. Nhưng nhuận bút của tất cả những bài thơ tôi chỉ tương đương mức tiền công trả cho một tù nhân. Cái nhìn thi ca đầy thơ mộng đó đã bừng lên trên khuôn mặt tôi. Năm 1990, tôi bị bắt vì đọc một bài thơ về vụ thảm sát Thiên An Môn, và tôi đã ở tù gần bốn năm. Ngay cả sau khi tôi được thả ra, tôi vẫn là một kẻ lang thang, một kẻ vô gia cư ngay trên quê hương mình. Vụ đại thảm sát ngày Bốn tháng Sáu đó là một bước ngoặt. Trước đó, mọi người dân đều yêu đất nước mình; sau đó, họ chỉ yêu tiền. Trái tim của nhân dân ngày càng lạnh giá. Là một cựu chính trị phạm không một xu dính túi, tôi có thể nói rằng mọi người đều coi thường tôi. Tôi cảm thấy như thế giới của tôi đã bị đảo lộn chỉ sau một đêm. Khi tôi về nhà và gặp lại vợ, cha mẹ, anh chị và những người bạn cũ, lần đầu tiên kể từ khi vào tù, họ có vẻ bình thản, và không có bất kỳ màn chào đón tình cảm nào mà bạn vốn vẫn đọc được trong sách. Sinh ra hơn nửa năm sau khi tôi đi tù, con gái tôi đã lên ba. Bé sợ cái đầu cạo trọc của tôi và bắt đầu khóc. Bé trốn sau cánh cửa và khóc thút thít, nhổ nước bọt vào tôi. Các tù nhân, theo định nghĩa, tất cả đều cô độc. Nhiều bạn tù của tôi đã không nhìn thấy người phụ nữ nào trong nhiều năm hoặc nhiều thập kỷ. Mọi tù nhân đều nói về tình dục vào mọi lúc, ngay cả với các chính trị phạm luôn đầy ắp các lý tưởng tự cho là cao cả của họ. Đó là chủ đề mặc định của chúng tôi trong các cuộc trò chuyện. Sự khác biệt duy nhất giữa thường phạm và chính trị phạm là khi thường phạm làm tình đồng giới đồng loạt với nhau trong phòng giam, thì các chính trị phạm phải giả vờ như họ không chú ý hoặc lặng lẽ lánh đi. Tôi đã từng dùng chung chiếc giường tầng với một người đàn ông phạm tội buôn người. Bất cứ khi nào các tù nhân tiến hành bữa tiệc sex đặc biệt với nhau vào buổi tối, anh sẽ tự mình thủ dâm. Thỉnh thoảng anh làm rung cả cái giường, và tôi sẽ gõ mạnh lên khung giường sắt để phản đối. Anh sẽ hét lại với tôi mà không bỏ lỡ một nhịp thủ dâm nào: “Mày không biết à? Thủ dâm hoặc đánh mất cực khoái!" Sau đó, tôi bị các tù nhân đem ra làm trò cười, nhưng sau khi được thả, tôi nhận ra rằng mình thực sự đã đánh mất ham muốn nhục dục. Nó bộc lộ ngay trong cuộc ‘sinh hoạt’ đầu tiên với vợ tôi sau cuộc chia ly dài; trên thực tế, cuộc đó đã kết thúc trước khi nó thực sự bắt đầu. Nàng đứng dậy, mặt lạnh như băng, và nói: “Em không thực sự ham muốn, nhưng vì anh vừa về đến nhà, em nghĩ không có cách nào để tránh được việc đó”. Cái nhìn trống rỗng trên khuôn mặt tôi che giấu sự hỗn loạn trong tôi. Tôi nhanh chóng mặc quần áo. Cuộc sống sau khi ra tù hóa ra là một địa ngục trần gian. Lối thoát cho cuộc hôn nhân của một người ham muốn tình dục vô độ với một người rối loạn chức năng tình dục kèm theo quá khứ chính trị bị nghi ngờ là gì? Những người bạn cũ của tôi sẽ trả lời điện thoại ngay lần đầu tiên tôi gọi, nhưng họ không bao giờ trả lời lần thứ hai. Ngay cả những người đến mời tôi ăn tối một cách đầy trân trọng sau đó cũng sẽ biến mất. Lúc đó, vợ tôi đang là biên tập viên của một tuần san giải trí được xuất bản bởi một hộp đêm Thành Đô. Nàng sợ rằng cái đầu trọc của tôi quá dễ nhận thấy – đó là dấu hiệu của một cựu tù nhân, vì vậy nàng đã mua cho tôi một bộ tóc giả và bắt tôi phải đeo nó. Có lần tôi đến hộp đêm đó để đón nàng vì trời đã muộn và tôi lo nàng sẽ không an toàn khi về nhà. Ngay khi vào hộp đêm, tôi tình cờ gặp hai người quản lý, một béo một gầy, cả hai đều say xỉn, vốn là hai người bạn cũ của tôi, đều từng là nhà thơ. Cùng nhau, chúng tôi đã điều hành một tạp chí thơ ngầm để chọc ngoáy Đảng một cách hài hước. Tất nhiên cả hai đều có lý tưởng và yêu nước hơn tôi trong các cuộc biểu tình của sinh viên năm 1989, khi công khai đọc những bài thơ chống tham nhũng của họ trong khuôn viên trường đại học. Đêm ngày Bốn tháng Sáu đó, họ đã ở Quảng trường Thiên Phủ tại Thành Đô, mang thức ăn và nước uống cho các sinh viên đang giao tranh với binh lính trong quân đội và đưa những người bị thương đến bệnh viện. Tại hộp đêm, họ nhận ra tôi ngay. Gã béo chộp lấy bộ tóc giả của tôi và kêu lên: “Đây là cách mà kẻ phản cách mạng này đang ngụy trang ư?”. Gã gầy gào lên: “Đưa một cô gái lên cho nhà phản cách mạng nào!”. Tôi toát mồ hôi hột. Cả hai cùng cười ầm lên và kéo tôi vào một phòng riêng để uống rượu. Ba nữ tiếp viên bước vào và khởi động máy hát karaoke. Gã béo rút ví và đưa cho họ tờ 100 tệ tiền boa, hệt như hắn đang phát kẹo. Gã gầy hỏi tôi: “Cậu còn làm thơ không?” “Tôi không thể làm được nữa. Tôi đoán là tôi không cảm thấy hứng thú”, tôi trả lời. “Ồ, nếu cảm thấy như vậy, cậu hãy thử thay đổi cảm hứng và viết những bài thơ ca ngợi những hộp đêm, cuộc sống về đêm tại Thành Đô, những phụ nữ gợi tình và món lẩu cay”, hắn khuyên. “Bọn mình có thể in những bài thơ của cậu bằng bút danh trên tờ tạp chí của bọn mình, tờ tạp chí mà vợ cậu đang biên tập đó”. Tôi chết lặng. “Các cậu đã từng là những nhà thơ nghèo khổ, thậm chí không thể mua nổi một chai rượu ngon. Các cậu kiếm đâu ra tiền để kinh doanh ở đây thế? Chỉ riêng tiền thuê nhà đã phải đến hàng trăm nghìn nhân dân tệ mỗi năm rồi ấy chứ”. “Chỉ cần thực hiện một khoản vay và cậu có thể chi tiêu tất cả những gì mình muốn”, gã béo nói. “Có một người tôi quen đang làm trong ngân hàng, hắn sẽ lấy tòa nhà và các thiết bị làm tài sản thế chấp. Thật không may, các cô gái không được coi là tài sản thế chấp”. “Người nghèo không phải là những người theo chủ nghĩa xã hội kể từ khi Đặng Tiểu Bình thúc đẩy cải cách kinh tế trong chuyến hành phương Nam nổi tiếng hồi năm 1992”, gã gầy nói thêm. “Biểu tình để ủng hộ nền dân chủ sẽ không đưa chúng ta đến đâu cả. Tiền sẽ thực hiện điều đó”. * Cuộc sống trước ngày Bốn tháng Sáu đó đã trở thành một ký ức xa vời. Những tháng ngày ấy đã trôi đi đầy lãng phí. Tôi trôi dạt vô định, thổi sáo trong các quán bar và trên đường phố để kiếm tiền, và viết hồi ký về đời tù của mình bất cứ khi nào rảnh rỗi. Tôi hình dung mình là người đàn ông xui xẻo nhất vẫn còn sống. Ngay cả người ‘đặc tình’ bí mật cho cảnh sát chuyên theo dõi tôi cũng cảm thấy tiếc cho tôi. Một ngày nọ, hắn đến thăm tôi, thông báo rằng hắn đã tìm thấy một cửa hàng trống, và sẽ sắp xếp cho tôi mở một cửa hàng quần áo ở đó. Tôi nói tôi sẽ không biết mua quần áo ở đâu chứ đừng nói đến việc bán chúng. Hắn hỏi lại: “Ý cậu là gì, cậu thậm chí không biết làm cả những điều đơn giản ư? Tôi sẽ đưa cậu đến chợ Ao Sen để lấy hàng giả, tại ga tàu hỏa Cửa Bắc. Cậu có thể dự trữ đống hàng giả và nhãn mác của quần áo có thương hiệu, với số lượng lớn. Mua một mớ, giặt qua, rũ bỏ các nếp nhăn, là cẩn thận, và chúng sẽ trông giống như hàng thật. Nếu cậu giỏi nói thách những món hàng của mình, cậu có thể bán một chiếc áo 10 tệ với giá 50 hoặc 100 tệ. Cậu sẽ giàu có ngay lập tức!” “Khách hàng không ngốc đâu”, tôi trả lời. “Đúng vậy, nhưng cậu phải biết tự nói chính mình rằng họ ngốc thật. Bán hàng là một cuộc chiến tâm lý”. “Nếu khách hàng nào đó phát hiện ra mình bị lừa thì sao?” “Giơ súng lên và khẳng định cậu sẽ không bao giờ bán hàng giả. Nếu họ thực sự làm ầm lên và từ chối, hãy gọi cho tôi”. “Tôi không chắc mình muốn điều hành một doanh nghiệp mà sẽ không thể tồn tại nếu thiếu sự bảo kê của cảnh sát”, tôi nói, rồi cười cay đắng. “Nếu cậu có thể rút súng ra, cậu sẽ có tiền thật”, hắn bảo đảm với tôi. “Tôi có thể giúp cậu được miễn tiền thuê trong vài năm đầu, và khi cửa hàng thực sự phát đạt, cậu sẽ nắm bắt cơ hội này và mở một chuỗi cửa hàng. Nhắm đến mười cửa hàng trong vòng năm năm và năm mươi cửa hàng trong vòng mười năm. Cậu sẽ có chuỗi cửa hàng quần áo hàng đầu trong thành phố. Nếu muốn tiến thêm một bước, cậu hãy thuê thêm vài người và mở xưởng may của riêng cậu, tạo ra những thương hiệu gắn tên nước ngoài và xuất khẩu chúng với giá rẻ; cậu sẽ là ông chủ của một công ty đa quốc gia lớn. Trước khi cậu nhận ra điều đó, ngay cả người phương Tây cũng sẽ không mặc áo và sẽ không có quần lót nếu không có cậu”. Tôi cười lớn, nhưng ngay khi ngậm miệng, tôi cảm thấy thật thảm hại. Chúng tôi uống đến tận khuya, say thật sự. Vừa mới vỗ vào lưng nhau, nhưng ngay sau đó chúng tôi lại nhìn nhau đầy cảnh giác. Khi bữa nhậu kết thúc thì trời đã gần sáng. “Hãy nghĩ về điều đó, Liêu nhé”, hắn nói khi chia tay. Tôi trả lời: “Điều này không dành cho tôi. Cậu có thể đi tiếp con đường riêng của mình. Tôi sẽ gắn bó với cây cầu gỗ đơn của tôi“. Cây cầu đơn đó là những buổi thẩm vấn trong tù mà tôi đang viết lại, trong bí mật. Một năm sau, người bạn nhậu vốn là ‘đặc tình’ của cảnh sát đó xông vào căn hộ của tôi với một lũ đàn ông. “Đây là một sự thực thi pháp luật”, hắn tuyên bố. Hắn cho tôi xem thẻ cảnh sát của mình và đọc lệnh khám xét. Chúng lục soát kỹ lưỡng ở mọi nơi: trên giường, trên bàn, trên mái nhà, dưới sàn nhà, và tất cả những ngách bụi bặm mà tôi không hề bận tâm đến. Chúng mở tất cả các ngăn kéo và lộn tất cả các túi của tôi từ trong ra ngoài. Mặc người ‘đặc tình’ cũ của tôi, Vũ Tử, phản đối ầm ĩ, chúng còn lật tung ổ chó và khám xét nó kỹ lưỡng. Mọi thứ có chữ viết trong nhà đều bị tịch thu: thư từ, ghi chú, tờ rơi tìm chó lạc, và bản thảo cuốn hồi ký gần hoàn thành của tôi. Tôi đã phải ký vào danh sách các bằng chứng phạm tội mà chúng đã thu thập. Sau đó, tôi bị đẩy vào một chiếc xe cảnh sát và bị thẩm vấn tại một đồn cảnh sát gần đó cho đến gần nửa đêm. Vào thời điểm đó, cùng một người đàn ông từng thúc giục tôi khởi nghiệp trong ngành may mặc đã đến gặp tôi trước khi tôi về nhà. Hắn bắt tay, vỗ vai và cảnh báo tôi: “Cậu không nên rời khỏi nhà trong một tháng”. Tôi đã bị tước đoạt mất hàng trăm nghìn chữ của đống bản thảo viết tay chỉ trong một đêm. Tôi ngủ thiếp đi, tự nguyền rủa mình với từng lời nguyền của người Tứ Xuyên mà tôi biết. Và sau đó, tôi bắt đầu viết lại cuốn hồi ký của mình từ đầu. Tôi không xứng đáng với sự thông cảm của ai - khi đang bận rộn kiếm sống, không ai có thời gian rảnh rỗi cho những rắc rối lố bịch của kẻ khác - nhưng ở trên thiên đường, hình như các vị thần linh cảm thấy tiếc cho tôi và bù đắp cho những bất hạnh của tôi bằng cách gửi xuống cho tôi một thiên thần, Tống Du. Nàng động viên giúp đỡ tôi khi tôi đang bị mắc kẹt vào quãng thời gian tồi tệ nhất của cuộc đời mình. Vấn đề xuất tinh sớm của tôi dần dần được khắc phục, nhưng chứng rối loạn chức năng tâm thần của tôi vẫn tồn tại. Tôi bồn chồn và lo lắng bởi những thay đổi tâm trạng cực độ. Vào buổi tối, khi thổi sáo trong các quán bar, tôi thường nói nhiều và lần lượt khuất phục người nghe. Có lần tôi đã đập một cái chai trên đầu người say rượu trong một cuộc ẩu đả ở quán bar khiến cảnh sát phải lập biên bản. Năm 1995, cảnh sát mật đã trở lại. Có lẽ họ đã theo dõi nơi tôi ở; họ dường như luôn biết tôi đã ở đâu và từng nói chuyện với ai. Họ dường như đã thâm nhập vào những giấc mơ của tôi một cách bí ẩn: tôi có một giấc mơ lặp đi lặp lại về sự trốn thoát, khi mơ thấy mình vẫy đôi cánh tay và đột nhiên bay vút lên không trung. Kiệt sức vì bay, tôi ngủ trong tư thế bào thai, không mong muốn gì hơn là được trở về tử cung của mẹ, nơi tôi sẽ không bị theo dõi. Khi tôi gặp ác mộng, Tống Du sẽ đánh thức tôi bằng cách lay tôi nhẹ nhàng và ôm tôi như một người mẹ, cho đến khi một cơn ác mộng khác trong-đời-thực của một ngày mới bắt đầu. Điều đã đưa cảnh sát đến nhà tôi lần này là bản kiến nghị “Sự thật về sự kiện ngày Bốn tháng Sáu” mà Lưu Hiểu Ba đã gửi cho tôi bằng bản fax. Tôi đã ký vào tài liệu được in mờ nhạt đó mà không cần suy nghĩ, và fax lại. Hai ngày sau, tôi bị cảnh sát bí mật bắt đi mà vẫn không hiểu vì sao, và bị giam giữ trong hai mươi ngày. Tống Du đã dành nhiều ngày bên ngoài các bức tường của nhà tù, cố gắng tìm hiểu những gì đang xảy ra với tôi. Khi tôi về đến nhà, điều đầu tiên nàng nói với tôi là: “Nếu mọi thứ cứ tiếp diễn như thế này, liệu chúng mình có còn tương lai với nhau không anh?" Tôi không thể nói gì thêm với nàng. Những từ duy nhất xuất hiện trong đầu tôi là một dòng thơ của nhà thơ Dylan Thomas: “Dành cho người cảm thấy một thế giới đầy tật bệnh đang sụp đổ như tuyết tan”. Lúc đó tôi còn trẻ và nóng tính. Mặc dù tôi đã gây ồn ào về việc muốn ra nước ngoài, nhưng tôi thực sự không muốn di cư, thậm chí không muốn phải tị nạn chính trị. Tôi là một con chó hoang đầy hoang dã. Tôi đã lăn lộn một cách xuất sắc trong những thùng rác tại các con ngõ, phơi nắng, sau đó lật một vài mẩu rác và tìm kiếm các mẩu chuyện. Tôi như một kẻ nghiện cờ bạc một cách điên cuồng. Nếu Đảng Cộng sản không muốn tôi viết một cái gì đó, thì tôi phải viết nó ra. Có lẽ mong muốn này bắt đầu khi tôi ở trong tù, nằm giữa hai người đàn ông bị kết án tử hình. Họ đua nhau trút bầu tâm sự với tôi cả ngày lẫn đêm. Một người kể về việc anh ta đã chém vợ đến chết và sau đó quan hệ tình dục với xác chết của nàng cả tiếng đồng hồ ra sao. Người kia kể với tôi rằng anh ta đã tỉnh táo như thế nào sau khi trốn thoát khỏi nhà tù bằng cách ngụp lặn dưới hầm chứa phân rồi tìm cơ hội trốn trại. Tôi không muốn nghe - các giác quan của tôi đã bị quá tải - nhưng họ sẽ không im lặng. Họ nói: “Cậu phải nghe. Cậu là thính giả cuối cùng của chúng tôi. Chẳng nhẽ cậu lại nỡ không lắng nghe chúng tôi ư?” Vì vậy, tôi lắng nghe câu chuyện của họ nhiều lần. Cách duy nhất tôi có thể khiến hai tên khốn bị kết án đó bước ra khỏi tâm trí mình là viết ra những câu chuyện của họ. Trong những năm qua, tôi đã hoàn thành việc ghi chép và viết ra những câu chuyện của hơn ba trăm người sống dưới đáy xã hội Trung Quốc. Đến lúc đó, tôi cũng là một phần của lớp người dưới đáy ấy. Tôi đã rơi xuống vực thẳm của lớp người cùng khổ ở thành thị, điều này đưa tôi lên cùng một đẳng cấp với những vô gia cư trong thành phố. Tôi không có định hướng trong cuộc sống, và không có tự do. “Nếu trái tim của bạn giam cầm bạn, bạn sẽ không bao giờ được tự do”. Đó là điều mà người thầy dạy sáo trúc của tôi đã từng nói - và không biết giờ ông đang ở đâu? Tôi bắt đầu uống nhiều rượu. Khi say, tôi sẽ nguyền rủa Trung Quốc, nguyền rủa cảnh sát, nguyền rủa lãnh đạo Cộng sản Đặng Tiểu Bình và Lý Bằng, nguyền rủa giới trí thức tinh hoa, nguyền rủa các nhà hoạt động dân chủ lưu vong, và nguyền rủa cả hàng triệu người đã xuống đường vào năm 1989. Tại sao tôi lại quyết định xuống đường đọc bài thơ ‘Thảm sát’ của mình vào sáng sớm ngày Bốn tháng Sáu đó? Nó có đáng không? Tất cả trong số họ đều là những người rất tốt khi bị giết bởi những gì họ tin tưởng, nhưng tôi đã bị kết án để nhận lấy một cuộc hiện sinh khốn khổ vô thời hạn. * Vào mùa Thu năm 2004, tôi đã ly hôn lần thứ hai. Ngay sau đó, cảnh sát mật đã đến và quản thúc tôi tại gia, sau khi tôi phỏng vấn hai học viên Pháp Luân Công. Số phận của tôi thật tệ hại. Kể từ khi tôi ra tù một thập kỷ trước đó, các ‘đặc tình’ được giao nhiệm vụ theo dõi tôi đã thay đổi bảy lần. Lần này chuyện xảy ra bởi hai người phụ nữ ăn mặc bảnh bao, trông rất lo lắng gõ cửa nhà tôi. Tôi nghĩ rằng họ là những người ăn xin và tôi cho họ vào. Theo thói quen, tôi lấy ra cuốn sổ tay của mình và ghi lại cách đối xử khủng khiếp mà họ phải chịu đựng tại một viện tâm thần. Một tuần sau, tôi nghe thấy tiếng đập mạnh vào cánh cửa. May thay, cánh cửa rất chắc chắn và không thể mở được bằng cách đấm và đá. Trong cơn tuyệt vọng, tôi lấy thẻ ngân hàng và thẻ căn cước từ ngăn kéo, vắt mình ra khỏi cửa sổ nhà bếp và bắt đầu trèo lên ống khói bằng cách nắm lấy hai sợi dây chống sét han rỉ. Ngay khi tôi đang chạm vào mép bê-tông, co mình lại và cố gắng móc chân phải của tôi lên mép mái nhà, thì bàn tay trái của tôi trượt một chút. Tôi toát mồ hôi lạnh. Tầng bảy! Nếu tôi ngã, bộ não của tôi sẽ văng khắp nơi như một chiếc bánh nhân thịt. (..) Ngày đầu tiên tôi chính thức mất tích, tôi ở thành phố Đại Lý xa xôi, uống rượu với một nhóm bạn suốt đời phải mang tiếng xấu đó. Ngồi đối diện với tôi là hai nữ nhà văn xinh đẹp ở tuổi đôi mươi, những phụ nữ có thể uống nhiều hơn và mỉa mai những người đàn ông. Chỉ vào mũi tôi, họ hét lên: “Cái đầu buồi ngu ngốc kia!”, nên tôi phải chuyển sang ngồi bàn khác. Những người bạn kia vỗ tay khen ngợi tôi và nghĩ rằng tôi sẽ lang thang ở đó một thời gian. Tôi không bao giờ biết có bao nhiêu người đang theo dõi tôi ở xung quanh. Nhưng thấy tôi uống rượu rất nhiều ở đó, đêm này qua đêm khác, không làm gì nghiêm trọng, nên họ đã bớt theo dõi tôi gắt gao. Sau đó, cứ như vậy, tôi đột nhiên bỏ đi và không bao giờ quay lại. Đến một thành phố khác trên một chuyến xe buýt đường dài, tôi chọn một quán trọ nhỏ một cách ngẫu nhiên và trốn ở đó trong hai đêm để đảm bảo không ai biết tôi đang ở đâu. “Tiếp tục chạy trốn, tiếp tục chạy trốn!”, tôi hét lên với chính mình ngay cả trong những giấc mơ. Trước khi bình minh ló rạng, tôi đi ra khỏi cửa với chiếc túi đeo chéo qua vai. Khi tôi đến một thị trấn nhỏ ở sát biên giới thì trời đã tối. Giữa sấm sét, chớp giật và mưa như trút nước, tôi vào một khách sạn và liên lạc với một người dân vùng biên giới có nhiệm vụ giúp đỡ tôi. Phải mất một thời gian dài để ông xuất hiện. Chúng tôi thì thầm với nhau hơn mười phút. Ông nói rằng vượt qua biên giới khá dễ dàng. Có thể lấy một chiếc thuyền và chèo qua phía bên kia. Ông nói: “Cảnh sát không chú ý đâu, và chúng tôi thường xuyên đóng 'phế’ cho chúng”. Tôi nói mình không muốn đi thuyền. Tôi muốn băng qua cầu. “Sẽ gặp một chút khó khăn đấy”, ông nói, “nhưng chúng ta có thể thử”. Những linh hồn của năm 1989, những người anh em phải chịu đựng sự đàn áp vào năm 1989, những người mẹ và những người cha của năm 1989, những người bạn trên thiên đường, những người bạn bị chôn vùi dưới lòng đất, những người mà linh hồn của họ đang lẩn khuất trong mưa hoặc đang bị gió thổi đi - từ bóng tối của vùng biên giới này, tôi cúi đầu chào các bạn. Tối hôm sau, trước khi bước ra khỏi địa phận Trung Quốc để đi sang tỉnh Lào Cai của Việt Nam, tôi nhìn lại quê hương mình, và, như đang trong một giấc mơ, mấy dòng thơ cũ chợt ùa đến với tôi: ‘Thế giới là một cây cầu rất hẹp Đừng sợ Bạn có thể vượt qua nó’./. * VỀ TÁC GIẢ Liêu Diệc Vũ là nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ và nhà báo Trung Quốc. Ông sinh năm 1958 tại Tứ Xuyên. Ông là người phê phán chế độ Cộng sản Trung Quốc, đã bị cầm tù. Những cuốn sách của ông, vài cuốn trong số đó là các bộ sưu tập các cuộc phỏng vấn với những người bình thường từ dưới đáy xã hội Trung Quốc, đã được xuất bản ở Đài Loan và Hồng Kông nhưng bị cấm ở Trung Quốc đại lục; một số đã được dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Ba Lan và tiếng Tiệp. Ông hiện đang tị nạn chính trị ở Đức. (Wikipedia). * [Nguồn: "Bullets and Opium: Real-Life Stories of China after the Tiananmen Square Massacre" [Những viên đạn và Mồi thuốc phiện: Các câu chuyện đời thực về Trung Quốc sau cuộc Thảm sát Thiên An Môn] (Simon and Schuster, 2019)]
  • TINH THẦN CỦA LỊCH SỬ
    16/ 03/ 2023
    TINH THẦN CỦA LỊCH SỬ Terry Pinkard Nguyễn Trung Kiên dịch [Kỷ niệm 250 năm ngày sinh Hegel (1770-2020]   LỊCH SỬ, HOẶC ÍT NHẤT LÀ NGHIÊN CỨU VỀ LỊCH SỬ, đang ở trong tình trạng tồi tệ trong thời đại này. Hầu như tất cả mọi người đều đồng ý rằng hiểu biết về lịch sử là quan trọng, nhưng ở Hoa Kỳ, ngoại trừ những trường học ưu tú nhất, việc nghiên cứu lịch sử đang bước vào tình trạng rơi tự do. Thời đại chúng ta dường như có chung sự hoài nghi mà nhà triết học người Đức GWF Hegel (1770-1831) từng lên tiếng khi ông nói rằng bài học duy nhất mà lịch sử dạy cho chúng ta là không ai học được gì từ lịch sử. Tại sao vậy? Hiện tại luôn mới mẻ và tương lai chưa được kiểm chứng, khiến nhiều người đồng cảm với lời tuyên bố của doanh nhân Hoa Kỳ Henry Ford vào năm 1921 rằng lịch sử ít nhiều đã trở thành đống đổ nát. Tuy nhiên, chính Hegel cũng lập luận rằng, mặc dù vạn vật thực sự luôn có vẻ như chưa từng có, nhưng lịch sử đã thực sự cho chúng ta manh mối về mục đích tối hậu của mỗi chúng ta. Chúng ta là một giống loài đặc biệt: việc trở thành những sinh vật như chúng ta đang hiện hữu luôn là vấn đề đối với chúng ta - một phần bởi chúng ta tự biến mình thành những loại sinh vật giống mình bây giờ, và bởi chúng ta khám phá điều này theo tất cả những cách khác nhau về cách chúng ta đang sống đời sống của mình, cả trên bình diện cá nhân lẫn tập thể. Việc nghiên cứu lịch sử không chỉ liên quan đến việc kể những câu chuyện hay chồng chất lên các sự kiện. Trong cấu trúc lớn hơn của nó, lịch sử là lời kể về việc nhân loại đang tự thực nghiệm việc tìm hiểu bản thân theo vô số cách mà nó đang định hình cho chính nó trong đời sống hàng ngày, và cũng như cách mà những biến đổi lịch sử có liên hệ mật thiết với những thay đổi trong sự tự nhận thức mang tính nền tảng về chính chúng ta. Như Hegel đã đặt vấn đề trong một loạt bài giảng vào những năm 1822-1830, ‘chúng ta’ là sản phẩm đặc biệt của chính mình, và sự nghiên cứu lịch sử trên bình diện triết học là nghiên cứu về cách chúng ta định hình bản thân mình - cái vốn thay đổi theo thời gian. Không ai từng quan niệm về một lịch sử triết học đầy tinh tế và sống động hơn Hegel. Hệ thống của ông được xây dựng dựa trên ba ý tưởng cơ bản. Đầu tiên, nền tảng cho tồn-tại-người là sự tự ý thức. Đối với con người, khi thực hiện bất cứ điều gì trong bất kỳ cảnh giới hiện thực nào của mình, con người thực sự biết hắn đang làm gì khi hắn đang hành động như vậy. Điều này đúng ngay cả khi chúng ta không suy nghĩ rõ ràng về những gì mình đang làm. Đây là một ví dụ đơn giản: khi bạn đang đọc nội dung này, giả sử bạn nhận được tin nhắn từ một người bạn: ‘Cậu đang làm gì vậy?’. Bạn trả lời ngay lập tức: ‘Tôi đang đọc một bài báo về Hegel.’ Bạn biết mình đang làm gì mà không cần phải suy nghĩ hoặc đưa ra các kết luận. Không cần suy nghĩ gì thêm, bạn biết rằng mình không nhảy dù, đang tắm, đang làm vườn hay đang giải ô chữ. Bạn không nhìn xung quanh và suy luận từ các bằng chứng. Bạn không cần kiểm nghiệm bất kỳ suy nghĩ nội tâm cụ thể nào. Trên thực tế, theo thuật ngữ kiểu Hegel, khi bạn đang làm một việc gì đó và bạn hoàn toàn không biết mình đang làm gì, thì bạn thực sự không làm gì cả. Thay vào đó, mọi thứ chỉ đang diễn ra. Thực tế là, đôi khi chúng ta chỉ nhận thức mơ hồ về những gì chúng ta đang làm. Tuy nhiên, ngay cả sự tự ý thức được phản chiếu, vốn xa cách hơn với thực tại của chính chúng ta, thì cũng chỉ là sự nhận thức sâu hơn về mối quan hệ tự thân sâu sắc và rõ ràng kiểu Hegel: mọi ý thức đều là tự ý thức. Thứ hai, Hegel cho rằng tự ý thức luôn là vấn đề định vị bản thân trong một loại không gian xã hội của ‘tôi’ và ‘chúng ta’. Nói ‘tôi’ hay nói ‘chúng ta’ chỉ là nói đến một trong hai mặt của cùng một tính biện chứng. Trong nhiều trường hợp, ‘chúng ta’ dường như thêm vào rất nhiều trường hợp của ‘tôi nghĩ’ hoặc ‘tôi làm’, nhưng theo nghĩa cơ bản nhất của nó thì ‘chúng ta’ cũng mang tính cơ bản như ‘tôi’. Về cơ bản, sự tự ý thức của mỗi cá nhân là mang tính xã hội. Tính tổng quát của cái ‘chúng ta’ thể hiện trong các hành vi cá nhân của mỗi chúng ta, nhưng bản thân ‘chúng ta’ không là gì khác ngoài các hành động riêng lẻ của những tác nhân bằng xương bằng thịt. Khi tôi biết mình đang làm gì, tôi cũng ý thức được rằng những gì ‘tôi’ đang hành động cũng có thể chính là cách mà ‘chúng ta’ hành động. Thật sai lầm khi nghĩ rằng mặt này của tính biện chứng quan trọng hơn mặt kia: ‘Tôi’ không chỉ đơn thuần là một điểm không có nội dung khác được hấp thụ hoàn toàn trong không gian xã hội (một ‘chúng ta’); cũng không phải ‘chúng ta’ - không gian xã hội - chỉ đơn thuần là sự bổ sung của rất nhiều ‘tôi’ của các cá nhân. Không có người hành động thì sẽ không có hành động; không có hành động thì sẽ không có người hành động. Điều này đôi khi khó nhận thấy. Thông thường, cái ‘tôi’ cố gắng tách mình ra khỏi cái ‘chúng ta’ và nổi loạn để chống lại cái ‘chúng ta’. (Hãy nghĩ về thuyết hiện sinh). Đôi khi cái ‘tôi’ cố gắng hấp thụ hoàn toàn vào cái ‘chúng ta’. (Hãy nghĩ về những gì mà những người theo chủ nghĩa toàn trị đang mơ về). Đôi khi cái ‘tôi’ cố gắng kiểm soát từng giai đoạn của sự công nhận mà nó tìm kiếm từ ‘chúng ta’ bằng cách giả vờ là những gì nó không phải là. (Hãy nghĩ về kẻ lừa đảo). Tất cả những dạng thiếu sót của ‘tôi’ và ‘chúng ta’ đều xuất hiện trong lịch sử theo những cách khác nhau. Thứ ba, đối với con người, cũng như với bất kỳ loài sinh vật nào, có những cách mà mọi thứ có thể diễn ra tốt hơn hoặc xấu đi đối với các cá thể trong loài. Cây cối không có đất thích hợp sẽ không sinh sôi nảy nở như chúng có thể; những con sói không có phạm vi môi trường thích hợp sẽ không thể trở thành những con sói như chúng có thể. Tương tự, những con người tự ý thức về bản thân cùng xây dựng môi trường gia đình, xã hội, văn hóa và chính trị để có thể trở thành phiên bản mới, khác biệt và tốt hơn so với chính họ. Nhưng những gì chúng ta có thể tạo ra tùy thuộc vào việc chúng ta đang ở đâu trong lịch sử. Các bậc cụ kỵ của bạn không bao giờ mơ ước trở thành lập trình viên. Những người dân làng thời Trung cổ không khao khát trở thành nhà quản lý cấp trung trong một công ty thu gom rác toàn cầu. ’Tôi’ là ai luôn bị ràng buộc với những gì ‘chúng ta’ hành động, nhưng thật sai lầm khi coi những hành vi cá nhân của chúng ta chỉ đơn giản là những hợp phần đơn lẻ của một cái gì đó như những quy tắc chung. Tốt hơn nên nói rằng chúng ta LÀ VÍ DỤ theo những cách tốt hơn hoặc tệ hơn về việc chúng ta thực sự là AI - ví dụ, trong tình bạn, khi chơi cờ, nhặt rau hoặc [thực hiện] quyền công dân. Tính tổng quát của hành động đặt ra các thuật ngữ mà tôi có thể phát triển như bất kỳ tình huống nào trong những tình huống này. Tuy nhiên, chính tôi là người đặt ra cách thức mà tôi trở thành ví dụ cho việc hành động, và tất cả chúng ta đều tham gia vào việc xem cả hai (‘tôi’ và ‘chúng ta’) hội tụ và phân kỳ trơn tru như thế nào. Là những cá nhân tự ý thức mang tính xã hội, chúng ta định hình lại cuộc sống của mình, mang lại ý nghĩa mới cho những thứ cũ (từ tình dục và thức ăn đến cách cư xử phức tạp trên bàn ăn) để chúng ta có được những thói quen mới, làm đầy thêm dáng điệu của đời sống động vật của chúng theo những cách đáng ngạc nhiên, ổn định hóa, và rồi lại tiếp tục thay đổi. Đây hiếm khi là một quá trình hoàn toàn suôn sẻ. Chúng ta tồn tại với tư cách là những cá nhân-với-các-bản sắc-xã hội trong các không gian xã hội mà chúng ta cùng thiết lập và duy trì. Một số quan hệ xã hội dựa trên vũ lực thô bạo, sự khuất phục và sỉ nhục (chẳng hạn như quan hệ giữa chủ nô và nô lệ). Chiến tranh mang tính phổ quát. Hegel nói, lịch sử trông giống như một bàn giết mổ rộng lớn, nơi mạng sống và hạnh phúc của hàng triệu người đã bị hy sinh. * Theo cách mà các loài có ‘đời sống tự ý thức’ đã tự diễn giải và diễn giải lại, lịch sử thoạt đầu có vẻ hơi u buồn. Toàn bộ các nền văn minh và lối sống đều đã tồn tại rồi tiêu vong, những lối sống cũ biến mất. Không có gì có vẻ ổn định. Đề xuất triết học táo bạo của Hegel nhấn mạnh rằng chúng ta thấy tiến trình này như là sự biểu hiện những cách thức mà mỗi dạng cá nhân của đời sống xã hội con người tạo ra căng thẳng [ở trong loài] và căng thẳng ở trong chính nó. Khi những căng thẳng này trở nên quá lớn đến mức lối sống như vậy cuối cùng không có ý nghĩa gì đối với những người tham gia, đời sống nhanh chóng trở nên không thể tiếp tục theo lối cũ. Một khi trở nên không thể tiếp tục, nó sẽ rạn nứt, tan rã, và cuối cùng nhường chỗ cho một lối sống khác. Lối sống mới xuất hiện khi những người sống trong đống đổ nát văn hóa của sự đổ vỡ nhặt nhạnh những phần vẫn còn phù hợp, loại bỏ những phần không còn phù hợp và tạo ra một cái gì đó mới mẻ từ sự đổ vỡ đó. Họ xây dựng một xã hội tự phát triển cho đến khi những căng thẳng và áp lực nội tại mới của chính nó dẫn đến sự suy sụp mới, sau đó một ‘dạng sống’ mới tiếp theo lại xuất hiện từ nó. Khía cạnh này của lịch sử tạo nên hình dạng thay đổi của chính cuộc sống tự ý thức. Hegel đã chọn thuật ngữ 'Geist' trong tiếng Đức (được hiểu là ‘tâm trí’ hoặc ‘tinh thần’ tùy thuộc vào người dịch) để nắm bắt điều đó. Khi ‘Geist’ đi qua các thời kỳ lịch sử, nó mang những hình dạng khác nhau khi nó tự tưởng tượng theo những cách khác nhau, và do đó, đối với những người đang nghĩ về nó, đó là một mục tiêu di động. Câu chuyện về sự phá vỡ và đổi mới này chính là phép biện chứng về lịch sử của Hegel. Mặc dù nhà triết học Đức bị lãng quên H.M. Chalybäus (1796-1862) đã thuyết phục được nhiều người rằng ‘luận đề-phản đề-hợp đề’ thể hiện phép biện chứng lịch sử của Hegel, bản thân Hegel chưa bao giờ nói về điều này. Hơn nữa, ngay cả trong cái nhìn tổng quan ngắn gọn này, chúng ta có thể thấy rằng quan điểm của Hegel liên quan nhiều hơn đến công thức đáng ngờ của Chalybäus. Hegel đã khảo sát lịch sử thế giới để xem liệu có bất kỳ loại logic nào đối với cách thức mà cái ‘tôi’ và cái ‘chúng ta’ tự định hình theo thời gian hay không. Liệu ‘Geist’ có đang tốt hơn trên tất cả các bình diện? Là một người châu Âu của thế kỷ XIX, Hegel không tìm thấy gì để giới thiệu ở các nền văn minh châu Á, châu Phi và châu Mỹ. Theo ông, tất cả chúng đều đã bị đình trệ tại một mức độ phát triển nhất định mà ông gọi là ‘chủ nghĩa vô thần chính trị’. Theo quan điểm của Hegel, ‘chủ nghĩa vô thần chính trị’ có nghĩa là không thể tồn tại thêm một tòa án nào để kháng cáo ngoài các sắc lệnh của tù trưởng, các bậc quân vương hoặc hoàng đế. Ngay cả khi hoàng đế ban hành luật pháp và thực thi chúng, thì đó vẫn là sự cai trị BỞI luật pháp, đó vẫn là sự cai trị của cá nhân, chứ không phải sự cai trị CỦA luật pháp – vốn không mang tính cá nhân. Trong ‘chủ nghĩa vô thần chính trị’, nguyên tắc chỉ đạo là chỉ một trong các thành viên được tự do (tù trưởng, hoàng đế, v.v.). Một mình ông tự do ban hành luật, những người còn lại phải tuân theo, và không có gì cao hơn để thẩm tra các sắc lệnh. Vì vậy, theo nghĩa đó, chỉ có ‘một’ (thủ lĩnh, hoàng đế, v.v.) có thể được cho là có tự do. Tất nhiên, quan điểm theo lối biếm họa này mô tả nhiều về những định kiến của châu Âu thế kỷ XIX hơn là về các xã hội khác, nhưng quan điểm của Hegel mang tính tổng quát hơn. Hegel tin rằng chỉ trong thế giới Hy Lạp cổ đại, loài người mới lần đầu tiên vượt ra khỏi ý tưởng rằng chỉ một người trong cộng đồng có thể được tự do, và đến ý tưởng táo bạo rằng một số lượng hạn chế người - những người đàn ông trưởng thành của thành bang - cả hai đều có thể và phải cùng nhau cai trị. Họ đối đầu với nhau như những người bình đẳng, vốn không có quyền hạn mặc định đối với nhau. Hegel nghĩ rằng, hơn nữa, đối với những người Hy Lạp này, họ đều biết mình đứng ở đâu trong trật tự xã hội của họ và họ phải làm gì. Họ cũng cho rằng, nếu mỗi người làm gương cho các yêu cầu duy trì trật tự tại địa vị của chính họ, thì cộng đồng sẽ hài hòa và trở thành một thứ đẹp đẽ. Sự kết hợp này với nhau giữa phong cách cá nhân và đời sống cộng đồng dường như đã tốt đẹp như nó có thể đạt được: tự do cá nhân đầy đủ và hoàn toàn chỉ trong một trật tự xã hội và chính trị quân bình của các công dân tự do. Tuy nhiên, vẫn còn đó một sự bất toàn. Người Hy Lạp cũng đánh đồng tự do của họ với sự độc lập. Vì một người có thể hoàn toàn độc lập trong các phán đoán và hành động của mình chỉ khi người khác chăm lo cho các nhu cầu khác của đời sống, nên họ cũng tin rằng họ buộc phải sống trong một thế giới chỉ dựa vào nô lệ và áp bức phụ nữ. Mặc dù một số người Hy Lạp nhận thấy những sự tệ hại này là đáng lo ngại, nhưng hầu hết trong số họ chỉ đơn giản coi chúng là cách vận hành thế giới không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, Hegel nhìn thấy sự bất bình ngấm ngầm của người Hy Lạp với chính họ, thể hiện dưới dạng kịch nghệ trong nghệ thuật của họ. Ví dụ yêu thích của ông là bi kịch ‘Antigone’ của Sophocles. Trong vở kịch này, các con trai và con gái của Oedipus thấy mình trong một tình huống đầy biến động. Hai trong số những người con trai đánh nhau vì sự truyền ngôi của Oedipus. Cả hai đều chết trong trận chiến, và người chú của họ, Creon, đã nắm lấy quyền lực. Creon ngăn cấm các nghi thức chôn cất cho một trong những người cháu trai của mình, nhưng người cháu gái Antigone của ông đã bất chấp ông bằng cách bí mật thực hiện các nghi lễ. Nàng làm như vậy bởi vì đó là yêu cầu tối thượng của nàng, bởi với tư cách em gái, nàng buộc phải thực hiện điều này, nhưng nàng cũng biết rõ rằng yêu cầu tối thượng của mình là phải tuân theo Creon (đặc biệt là khi nàng vẫn còn là một phụ nữ trẻ). Antigone bị kẹt trong một tình huống mà trong đó lẽ phải đối nghịch với lẽ phải. Nàng cũng có yêu cầu tối thượng về việc không được tự quyết định về những mình buộc phải làm - đó là nhiệm vụ của nàng trong đời sống để thực hiện các yêu cầu được đưa ra cho nàng - và đoạn hợp xướng sau đó sẽ lên án rằng đây là nỗ lực tự chủ đầy phi lý của nàng. Antigone bị cuốn vào đam mê đạt được điều mà phụ nữ thường bị cấm: nàng muốn tự do, một thứ tự do vốn sẽ đòi hỏi nàng phải được công nhận là bình đẳng. Nhưng ai sẽ có thẩm quyền để công nhận sự bình đẳng của nàng? Không phải người chồng (không phải ở Hy Lạp cổ đại). Không phải người con của nàng (nếu nàng có con). Không phải cha mẹ nàng. Không phải em gái nàng. Chỉ có các anh trai nàng mới có thể thực hiện điều đó, và cả hai đều đã chết. Trong niềm đam mê về tự do của mình, Antigone đã cố gắng kêu gọi sự công nhận đó từ người anh trai đã chết của nàng. Như những người từng xem vở kịch nhận ra, tất cả đều kết thúc tồi tệ. Tuy nhiên, thông qua sự thách thức của mình, Antigone đại diện cho những gì đã trở nên sai lầm đối với tư tưởng Hy Lạp: cách nó thiết lập chế độ bình đẳng cho một số người nhưng lại phủ nhận nó đối với những người khác. Khi làm như vậy, Antigone cũng trở thành tiếng nói của những người bị gạt sang bên lề, đòi hỏi được hòa nhập và công nhận như một người trong chúng ta, bình đẳng và tự do như nhau. Nàng đòi hỏi: “Nếu ‘một số người được tự do’, thì tại sao ta lại không?”. Đối với khán giả Hy Lạp cổ đại, điều này tạo ra cảm giác khó chịu mà có thể toàn bộ cảm xúc của họ chẳng có ý nghĩa gì. * Khi La Mã cổ đại vươn lên thống trị Hy Lạp, lúc đầu, có vẻ như một lối sống có ý nghĩa hơn đã xuất hiện để thay thế cho sự thất bại đang phôi thai của Hy Lạp, nhưng chính La Mã đã tự hủy hoại lối sống mới này. Vào cuối thời kỳ cổ đại, khi Cơ đốc giáo trở thành tôn giáo của đế quốc La Mã, mầm mống của một ý tưởng mới đã xuất hiện trong mục tiêu di động của đời sống tự ý thức: nếu tất cả mọi người đều là con của một Thượng đế, thì tất cả chúng ta đều là anh chị em, theo nghĩa ẩn dụ. Chế độ nô lệ và áp bức có thể là quy luật trên Trái Đất, nhưng bình đẳng là quy tắc cao hơn. Mặc dù ban đầu có thể chưa hoàn toàn mâu thuẫn một cách rõ ràng, nhưng mầm mống cho sự tính toán của nó trên thế giới đã được gieo xuống. Nhu cầu của Antigone đang trở nên phổ biến. Sự pha trộn dễ bị bùng nổ này của sự tự xa lánh, của ‘hư vô’ và sự tức giận trước sự bất công của trật tự thịnh hành đã bùng lên vào năm 1789 trong cuộc Cách mạng Pháp, trong đó những định đề cũ kỹ để duy trì lối sống cũ cuối cùng đã biến mất. Trong sự thức tỉnh của Cách mạng, nó để lại một loại tự do mà bản thân nó không bị ràng buộc bởi quá khứ, vốn rất hiếm hoi trong tự nhiên, và càng hiếm hoi hơn trong tôn giáo. Kết quả là, Hegel đã nắm lấy nó, lúc đầu nó đã để lại cho mình rất ít chất liệu để xây dựng một thế giới mới, ngoại trừ những ý tưởng rất trừu tượng về tự do không bị ràng buộc và những đức tính được cho là ràng buộc hơn của công dân trong việc ủng hộ chính phủ Cách mạng. Tuy nhiên, sau đợt bùng phát bạo lực ngắn ngủi trong Triều đại Khủng bố (1793-1794), mọi thứ đã lắng xuống, và sau năm 1815, trật tự mới không thể thay đổi được đặt ra, trong đó những thành quả của Cách mạng sẽ dần trở nên hiện thực hơn. Hoặc Hegel từng hy vọng như vậy. Hegel rất kiên định trong sự ngưỡng mộ của mình đối với Cách mạng Pháp - ông luôn kỷ niệm nó vào ngày 14 tháng 7 - bởi ông cho rằng nó đại diện cho thời điểm quyết định trong tính hiện đại của châu Âu. Nó đưa vào thực tế sự chuyển dịch trong lịch sử từ ‘một số người được tự do’ (như ở Hy Lạp và La Mã) sang ‘tất cả đều được tự do’, hay nói cách khác, nó biến hiện tượng không có ai thuộc quyền tối cao của bất kỳ ai khác trở thành một thực tế: không ai cả, không phải chủng tộc này đối với chủng tộc khác, không phải phụ nữ đối với đàn ông, không phải nông nô đối với địa chủ, không phải thường dân đối với quý tộc. Một khi mọi người đã nắm bắt được tư tưởng tự do và bình đẳng này, thì vị thần đèn không thể bị bỏ lại trong chiếc chai. Trật tự cũ về sự phục tùng tự mang tính tất định đã không còn nữa, ít nhất là trên lý thuyết, bởi vì, một khi ‘Geist’ đã phát triển, thì chính ý tưởng về sự phục tùng mang tính tất định tự nó không còn có ý nghĩa gì nữa. Cùng với đó, mọi thứ khác, từ cuộc sống gia đình đến cấu trúc của nhà nước, cũng sẽ phải thay đổi. (Nó chắc chắn liên quan đến việc loại bỏ lối sống truyền thống hơn so với những gì mà chính Hegel sẵn sàng thừa nhận). Nó cũng không phải là bất cứ điều gì được minh chứng ngay lập tức và đầy đủ trong thực tiễn châu Âu thế kỷ XIX. ’Tất cả mọi người đều được tự do’ không có nghĩa là, hễ khi con người vùng lên thì áp bức sẽ biến mất, mà nó có nghĩa là một bức tranh hoàn toàn mới về cá thể hành động đã xuất hiện lần đầu trên thế giới. Quan trọng nhất, nó báo hiệu một sự thay đổi trong quan niệm về công lý. Không còn là một yếu tố siêu hình của trật tự thế giới vĩnh cửu, công lý giờ đây đã là đặc tính cơ bản của một vương quốc tự do và của các công dân bình đẳng. Với kết cục của cuộc Cách mạng Pháp, thế giới hiện đại đã mang hình hài mới của nó như một ‘hình thái đời sống’. Tất nhiên, nó liên quan đến một loạt các quyền tổng quát và trừu tượng mang tính phổ quát, vốn đã được nhà triết học Anh John Locke phổ biến vào thế kỷ XVII (quyền được sống, quyền tự do và quyền sở hữu tài sản), nhưng quan trọng hơn, nó tạo nên đời sống thấm nhuần đạo đức, bao gồm việc sống theo những lý do có thể chấp nhận được cho tất cả mọi người chứ không chỉ cho cộng đồng nhỏ của riêng ai, trở thành một phần thiết yếu của trạng thái tâm lý hiện đại của chúng ta. Nó đã làm cho hai đặc điểm đó của đời sống trở thành hiện thực bằng cách đưa chúng vào các cách thức hành động và các thể chế cụ thể hơn. Ví dụ, tầm quan trọng tuyệt đối của các mối quan hệ của tình yêu và tình bạn và trong các gia đình được định hướng xung quanh việc nuôi dạy con cái trở thành những cá nhân độc lập, những người cũng sẽ trở thành các công dân tốt. Nó làm cho nhà nước pháp quyền trở thành một nguyên tắc hiến định và do đó vĩnh viễn biến địa vị của người dân từ thần dân trở thành công dân của một nhà nước hợp hiến. Nó cũng đảm bảo một không gian của đời sống - Hegel gọi nó là ‘xã hội dân sự’ - kết hợp các lực lượng sản xuất mới được phát hiện của thị trường với một tập hợp các thể chế bên trong nó được cho là sẽ kiềm chế và chế ngự các lực lượng phá hoại của chủ nghĩa tư bản đang đe dọa ăn mòn và bóp méo các cực mang tính nền tảng của tình yêu và tình bạn ở một đầu, cùng với quyền công dân và công lý ở đầu kia. Trong thập kỷ cuối cùng của đời mình, Hegel ngày càng lo lắng về các quan điểm của chính mình về kết cục lịch sử này. Mặc dù ông đã chỉ ra với các sinh viên của mình rằng việc các nước châu Âu gây chiến với nhau là hoàn toàn phi lý - ông đúng về điều đó, nhưng ông đã sai về việc liệu nó có xảy ra hay không - ông cũng ngày càng bi quan về việc liệu thị trường tư bản có thể thực sự kiềm chế được các thể chế khác của xã hội dân sự hay không (mặc dù ông không bao giờ từ bỏ ý tưởng rằng nó có thể). Ông cũng lo lắng rằng chủ nghĩa cá nhân thái quá mà thị trường luôn kích thích chúng ta đi theo sẽ đủ mạnh để khiến toàn bộ tiến trình trở nên bất khả. Trên thực tế, như ông nói với lớp học về triết học lịch sử của mình vào năm 1831, sự không tương thích này giữa chủ nghĩa cá nhân cực đoan hiện đại với các nhu cầu cần thiết của một đời sống xã hội và chính trị hài hòa và ổn định đã tạo nên xung đột, một ‘nút thắt’ như ông gọi, đó là nơi ông đã để lại dấu ấn lịch sử sau năm 1830. Khi thị trường cạnh tranh dẫn đến một xã hội cạnh tranh và không nhất thiết phải mang tính hợp tác, dân chúng chia thành các phe phái và điều này khiến bất kỳ chính quyền nào cũng không thể quản trị tốt được, vì chính quyền dường như sẽ chỉ là một phe tạm thời cai trị những người khác. Ông cũng nói với các học trò rằng trong tương lai chính nút thắt này sẽ phải được tìm cách tháo gỡ. Hegel bất ngờ qua đời chỉ vài tháng sau khi nói ra điều này. Từ những phân tích trong quá khứ về các hình thái của đời sống xã hội, cuối cùng chúng ta cũng có được một quan niệm triết học gần như đầy đủ hơn về quyền tự quyết của con người. Các cá nhân là mang tính tự ý thức, siêu hình về mặt xã hội trong sự tự ý thức của họ; chính những sự tự ý thức này đã khiến các cá nhân trở nên hiện hữu và cụ thể trong các dạng thức khác nhau của đời sống, và các dạng thức của đời sống này dần dần tự hủy hoại chính chúng trong lịch sử. Nói một cách ẩn dụ, ‘Geist’ (‘chúng ta’) đã đi đến kết luận này bằng cách buộc mình phải tự cho rằng tất cả mọi người đều tự do và bình đẳng, và nó không thể quay về theo lối cũ một cách duy lý được nữa. Vì mọi thứ xảy ra trước đó đã đổ vỡ, ‘chúng ta’ giờ đây buộc phải hướng suy nghĩ của mình về cách chúng ta đã biến ý tưởng đó thành hiện thực và, với quan điểm mới của chúng ta đối với chân lý không thiên vị, ‘chúng ta’ đã phát hiện ra chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính của mình, cùng với sự coi thường của chúng ta đối với bối cảnh tự nhiên của mình thực sự mâu thuẫn với tất cả những gì chúng ta đã tự trở thành. Cái mà ‘chúng ta’ giờ đây đã học hỏi được, trên bình diện triết học và thực tiễn, đó là, từ các dạng thức của cá nhân hành động được giả định trong các thành bang dân chủ của Hy Lạp cổ đại đi đến những cái tôi tự xa lánh xã hội của thời sơ kỳ hiện đại của châu Âu, tất cả con đường dẫn tới quan điểm hậu-cách mạng rằng “mọi người đều tư do”, lịch sử thế giới không gì khác hơn là cái cách mà ý tưởng về tự do và bình đẳng đã bị chính chúng ta ép buộc vào chính mình, và giờ đây đòi hỏi phải được hiện thực hóa. Vậy từ điểm này, ‘chúng ta’ sẽ kết thúc tại đâu?. Hegel đã khuyên rằng, triết học sẽ không cho chúng ta biết được điều đó. Con cú của Minerva (nữ thần thông thái) chỉ bay sau khi Mặt trời đã lặn. Tự do và bình đẳng vẫn là điều không thể nhượng bộ, cả hai đều đòi hỏi phải được hiện thực hóa, nhưng nút thắt về cách hiện thực hóa cả hai yếu tố này vẫn còn bị ràng buộc./. * VỀ TÁC GIẢ Terry Pinkard là giáo sư triết học của Đại học Georgetown tại Washington, DC. Ông nghiên cứu và giảng dạy chuyên sâu về truyền thống triết học Đức từ Kant tới nay. Ông là tác giả của nhiều chuyên khảo, trong đó có ‘Hegel: A Biography’ (2000). * Nguồn: Pinkard, Terry (2019). “The Spirit of History”. Aeon.co, June 13, 2019. URL = < https://aeon.co/essays/what-is-history-nobody-gave-a-deeper-answer-than-hegel >
  • KHI TRUNG QUỐC NHÌN THẤY TẤT CẢ: NHÀ TÙ TRÒN ĐANG HIỆN DIỆN Ở ĐÂY IKỳ 2)
    15/ 03/ 2023
    KHI TRUNG QUỐC NHÌN THẤY TẤT CẢ: NHÀ TÙ TRÒN ĐANG HIỆN DIỆN Ở ĐÂY Ross Andersen Nguyễn Trung Kiên lược dịch (kỳ 2/2)   (Mời đọc Kỳ 1 ở đây: https://exlibrishermes.com/khi-trung-quoc-nhin-thay-tat-ca-nha-tu-tron-dang-hien-dien-o-day)       TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY, một số thành viên trong giới trí thức Trung Quốc đã lên tiếng cảnh báo về việc trí tuệ nhân tạo bị lạm dụng, đáng chú ý nhất là nhà khoa học máy tính Tăng Nghị và nhà triết học Triệu Thinh Dương. Vào mùa Xuân năm 2019, Tăng đã xuất bản “Các nguyên tắc về trí tuệ nhân tạo ở Bắc Kinh”, một tuyên ngôn về nguy cơ trí tuệ nhân tạo can thiệp vào quyền tự chủ, nhân phẩm, quyền riêng tư và một loạt các giá trị khác của con người.   Tăng là người mà tôi muốn đến thăm tại Viện Tự động hóa Bắc Kinh, nơi mà, ngoài nghiên cứu về đạo đức trong trí tuệ nhân tạo, anh còn là Phó Giám đốc của Trung tâm Nghiên cứu Trí tuệ Mô phỏng Não bộ. Anh tìm thấy tôi ở tiền sảnh. Tăng trông trẻ so với tuổi 37, với đôi mắt nhân hậu và thân hình rắn chắc nhưng trông thon gọn nhờ quần thể thao màu đen và áo khoác trùm đầu.   Trên đường đến văn phòng của Tăng, chúng tôi đi ngang qua một trong các phòng thí nghiệm của anh, nơi một trợ lý nghiên cứu lướt qua kính hiển vi, xem các tín hiệu điện hóa nhấp nháy liên kết các nơ-ron với nhau qua mô não chuột. Chúng tôi ngồi xuống một chiếc bàn dài trong phòng họp liền kề với văn phòng anh, ngắm nhìn khung cảnh thành phố xám xịt, mờ sương trong khi trợ lý của anh pha trà.   Tôi hỏi Tăng về việc “Các nguyên tắc về trí tuệ nhân tạo của Bắc Kinh” đã được tiếp nhận như thế nào. Anh trả lời: “Mọi người nói, ‘Đây chỉ là một vở diễn chính thức của chính quyền Bắc Kinh’. Nhưng đây là công việc của đời tôi.”   Tăng đã nói một cách thoải mái về những lạm dụng tiềm ẩn của trí tuệ nhân tạo. Anh đề cập đến một dự án được triển khai cho một nhóm các trường học ở Trung Quốc, nơi tính năng nhận dạng khuôn mặt được sử dụng để theo dõi không chỉ việc đi học hay vắng mặt của học sinh mà còn xem từng học sinh có chú ý hay không. "Tôi ghét phần mềm đó,” Tăng nói. ”Tôi phải dùng từ đó: ghét.”   Anh đã nói tiếp một lúc, liệt kê nhiều ứng dụng phi đạo đức khác nhau của trí tuệ nhân tạo. “Tôi đã dạy một khóa học về triết lý về trí tuệ nhân tạo,” anh nói. ”Tôi nói với các học sinh của mình rằng tôi hy vọng không ai trong số các em dính líu đến những con robot giết người. Các em chỉ có một quãng thời gian ngắn ngủi sống trên Trái Đất. Có nhiều điều khác các em họ có thể làm với tương lai của mình”.   Tăng biết rõ rằng các tài liệu hàn lâm về đạo đức công nghệ thật khô khan. Nhưng khi tôi hỏi anh về hiệu quả chính trị của công việc của mình, câu trả lời của anh ấy kém thuyết phục hơn. Anh nói: “Nhiều kỹ thuật viên trong chúng tôi đã được mời đến nói chuyện với chính quyền, và thậm chí với Tập Cận Bình về những rủi ro tiềm ẩn của trí tuệ nhân tạo. Nhưng chính quyền vẫn đang trong giai đoạn học hỏi, giống như các chính quyền khác trên toàn thế giới.”   “Anh có điều gì mạnh hơn quy trình tham vấn đó không?” Tôi hỏi. ”Giả sử có những lúc chính phủ có những lợi ích mâu thuẫn với các nguyên tắc của anh. Anh đang dựa vào cơ chế nào để giành chiến thắng? “   “Cá nhân tôi, vẫn đang trong giai đoạn học hỏi về vấn đề đó,” Tăng nói.   Các công ty khởi nghiệp trong ngành trí tuệ nhân tạo của Trung Quốc gần như không bận tâm lắm về đạo đức công nghệ. Một số đang giúp Tập phát triển trí tuệ nhân tạo cho mục đích theo dõi một cách rõ ràng. Sự kết hợp giữa chế độ độc đảng của Trung Quốc và tàn dư của tư tưởng của kế hoạch hóa tập trung khiến giới tinh hoa trong ĐCSTQ vẫn đầy quyền lực trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế. Nhưng trước đây, mối liên hệ giữa chính quyền và ngành công nghiệp công nghệ rất kín đáo. Gần đây, Chính quyền Trung Quốc bắt đầu cử đại diện của mình vào các công ty công nghệ, để tăng cường các chi bộ Đảng Cộng sản tồn tại trong các công ty tư nhân lớn.   Bán công nghệ cho các cơ quan an ninh của nhà nước là một trong những cách nhanh nhất để các công ty khởi nghiệp trong ngành trí tuệ nhân tạo của Trung Quốc thu lợi nhuận. Một công ty viễn thông quốc gia là cổ đông lớn nhất của iFlytek, gã khổng lồ về nhận dạng giọng nói của Trung Quốc. Sự hợp lực là rất nhiều: Khi cảnh sát sử dụng phần mềm của iFlytek để theo dõi các cuộc điện thoại, các tờ báo quốc doanh đã đưa tin ủng hộ. Đầu năm nay, ứng dụng tin tức được cá nhân hóa Toutiao đã đi xa hơn khi viết lại sứ mệnh của mình để nêu rõ một mục tiêu sống động mới: điều chỉnh dư luận với mong muốn của chính quyền. Từ Lập, CEO của SenseTime, gần đây đã mô tả chính phủ là “nguồn dữ liệu lớn nhất” của công ty ông.   Liệu bất kỳ dữ liệu cá nhân nào có thể được đảm bảo bảo vệ ở Trung Quốc hay không vẫn còn chưa rõ ràng, bởi cấu trúc chính trị của đất nước này. Cuộc cách mạng kỹ thuật số đã khiến cho việc độc quyền dữ liệu trở nên khó tránh khỏi. Ngay cả ở Hoa Kỳ, nơi có truyền thống thực thi chống độc quyền đầy tinh vi, công dân vẫn chưa huy động ý chí đủ mức để buộc thông tin phải thuộc về đa số chứ không phải là thứ được sở hữu bơie một số ít kẻ mạnh. Nhưng các công ty độc quyền về dữ liệu tư nhân ít nhất phải tuân theo quyền lực chủ quyền của các quốc gia nơi họ hoạt động. Độc quyền dữ liệu của một quốc gia-nhà nước chỉ có thể được ngăn chặn bởi người dân của họ và chỉ khi họ có đủ quyền lực chính trị.   Người dân Trung Quốc không thể sử dụng một cuộc bầu cử để loại bỏ Tập. Và bởi không có cơ quan tư pháp độc lập, chính quyền có thể đưa ra lập luận, dù gây căng thẳng đến đâu, rằng họ phải sở hữu bất kỳ luồng thông tin nào, miễn là các mối đe dọa đối với “sự ổn định” có thể được phát hiện trong số các điểm dữ liệu. Hoặc nó có thể yêu cầu dữ liệu từ các công ty đã đóng cửa, như đã xảy ra trong đợt bùng phát virus corona đầu tiên. Không có báo chí độc lập nào để đưa tin về những yêu cầu này.   Mỗi khi khuôn mặt của một người được nhận dạng, giọng nói của họ được ghi lại hoặc tin nhắn văn bản của họ bị chặn, thông tin này có thể được đính kèm ngay lập tức vào số căn cước công dân, hồ sơ của cảnh sát, tờ khai thuế, hồ sơ tài sản và lịch sử việc làm của họ. Nó có thể được đối chiếu chéo với hồ sơ y tế và ADN họ, khi mà cảnh sát Trung Quốc tự hào rằng họ có bộ sưu tập ADN lớn nhất thế giới.   *   TĂNG VÀ TÔI nói tới một kịch bản toàn cầu đã bắt đầu diễn ra khiến các nhà đạo đức học về trí tuệ nhân tạo và những người đang quan sát Trung Quốc phải lo lắng. Trong trường hợp này, hầu hết các nhà nghiên cứu trí tuệ nhân tạo trên khắp thế giới đều nhận ra những rủi ro của công nghệ đối với nhân loại và phát triển các quy chuẩn mạnh mẽ xung quanh việc sử dụng nó. Tất cả, ngoại trừ Trung Quốc - nơi đang gây ồn ào về đạo đức trong trí tuệ nhân tạo, nhưng chỉ là vỏ bọc. Trong khi đó, đất nước này xây dựng các hệ thống theo dõi quốc gia hoàn thiện và bán chúng cho những nơi mà nền dân chủ còn mong manh hoặc không tồn tại. Những kẻ chuyên quyền trên thế giới thường bị đánh gục bởi các cuộc đảo chính hoặc các cuộc biểu tình của quần chúng, cả hai đều đòi hỏi một tổ chức chính trị cơ bản. Nhưng tổ chức chính trị quy mô lớn có thể chứng minh là không thể trong các xã hội bị theo dõi tự động một cách tràn lan.   Tăng bày tỏ lo lắng về viễn cảnh này, nhưng anh không đề cập cụ thể đến Trung Quốc. Anh không cần phải làm thế: Quốc gia này hiện là nhà bán thiết bị theo dõi được hỗ trợ bởi trí tuệ nhân tạo hàng đầu thế giới. Tại Malaysia, chính phủ đang làm việc với Yitu, một công ty khởi nghiệp về trí tuệ nhân tạo của Trung Quốc, để trang bị công nghệ nhận dạng khuôn mặt cho cảnh sát Kuala Lumpur như một sự bổ sung cho nền tảng City Brain của Alibaba. Các công ty Trung Quốc cũng trang bị cho Singapore 110.000 cột đèn có camera nhận dạng khuôn mặt.   Tại Nam Á, Chính quyền Trung Quốc đã cung cấp thiết bị theo dõi cho Sri Lanka. Trên Con đường Tơ lụa cũ, công ty Dahua của Trung Quốc đang rải khắp các đường phố ở thủ đô Mông Cổ bằng các camera theo dõi có sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo. Xa hơn về phía Tây, tại Serbia, Huawei đang giúp thiết lập một “hệ thống thành phố an toàn” hoàn chỉnh với camera nhận dạng khuôn mặt.   Vào những năm đầu thế kỷ này, gã khổng lồ viễn thông Trung Quốc ZTE đã bán cho Ethiopia một mạng không dây với khả năng truy cập tích hợp bằng ‘cửa sau’ (backdoor access) dành cho chính quyền. Trong một cuộc đàn áp sau đó, những người bất đồng chính kiến bị vây bắt để thẩm vấn tàn bạo, trong đó họ buộc phải bật lại âm thanh từ các cuộc điện thoại gần đây mà họ đã gọi [để thử giọng nói]. Ngày nay, Kenya, Uganda và Mauritius đang trang bị cho các thành phố lớn của các quốc gia này những mạng lưới theo dõi do Trung Quốc sản xuất.   Tại Ai Cập, Trung Quốc đang tìm cách tài trợ cho việc xây dựng một thủ đô mới. Nó dự kiến sẽ chạy trên nền tảng “thành phố thông minh” tương tự như City Brain, mặc dù một nhà cung cấp vẫn chưa được nêu tên. Ở miền Nam châu Phi, Zambia đã đồng ý mua hơn 1 tỷ USD thiết bị viễn thông từ Trung Quốc, bao gồm cả công nghệ theo dõi Internet. Hikvision của Trung Quốc, nhà sản xuất camera theo dõi được hỗ trợ bởi trí tuệ nhân tạo lớn nhất thế giới, có văn phòng tại Johannesburg.   Michael Kratsios, Giám đốc công nghệ của Hoa Kỳ, nói với tôi rằng Trung Quốc sử dụng “việc cho vay trước khi bán thiết bị viễn thông với mức chiết khấu đáng kể cho các nước đang phát triển, điều này sau đó đặt Trung Quốc vào vị thế kiểm soát các mạng đó và dữ liệu của họ”. Khi các quốc gia cần tái cấp vốn cho các điều khoản của các khoản vay của họ, Trung Quốc có thể đưa quyền truy cập vào mạng của những quốc gia đó như là một phần của thỏa thuận, giống như cách mà quân đội của họ đảm bảo quyền neo đậu tại các cảng nước ngoài mà họ tài trợ. Kratsios nói: “Nếu bạn cho [Trung Quốc] quyền truy cập không được kiểm soát vào các mạng dữ liệu trên khắp thế giới, đó có thể là một vấn đề nghiêm trọng”.   Năm 2018, CloudWalk Technology, một công ty khởi nghiệp có trụ sở tại Quảng Châu, tách ra từ Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, đã ký một thỏa thuận với chính phủ Zimbabwe để thiết lập một mạng lưới theo dõi. Các điều khoản của nó yêu cầu Zambabwe gửi hình ảnh về cư dân của mình - một bộ dữ liệu phong phú, vì Zimbabwe đã hấp thụ các luồng di cư từ khắp các vùng cận Sahara ở châu Phi - trở lại các văn phòng Trung Quốc của CloudWalk, cho phép công ty tinh chỉnh khả năng nhận diện hình ảnh sẫm màu - các khuôn mặt của người da đen, mà trước đây đã được chứng minh là phức tạp đối với các thuật toán của nó.   Đã thiết lập các đầu tàu ở châu Á, châu Âu và châu Phi, các công ty trí tuệ nhân tạo của Trung Quốc hiện đang đẩy mạnh vào châu Mỹ Latinh, khu vực mà Chính quyền Trung Quốc mô tả là “lợi ích kinh tế cốt lõi”. Trung Quốc đã tài trợ cho Ecuador 240 triệu đô-la để mua một hệ thống camera theo dõi. Bolivia cũng đã mua thiết bị theo dõi với sự trợ giúp bằng khoản vay từ Bắc Kinh. Venezuela gần đây đã ra mắt hệ thống thẻ căn cước công dân quốc gia mới để ghi lại các đảng phái chính trị của công dân trong cơ sở dữ liệu do ZTE xây dựng. Trong một tình huống trớ trêu, trong nhiều năm, các công ty Trung Quốc đã bày bán nhiều sản phẩm theo dõi này tại một hội chợ an ninh ở Tân Cương, quê hương của người Duy Ngô Nhĩ. *   NẾU VƯỢT QUA HOA KỲ VỀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO , Trung Quốc sẽ trở thành một lực lượng địa chính trị mạnh mẽ hơn, đặc biệt là với tư cách là người xây dựng tiêu chuẩn của một liên minh độc tài mới.   Trung Quốc đã có một số bộ dữ liệu lớn nhất thế giới để cung cấp cho các hệ thống trí tuệ nhân tạo của họ, một lợi thế quan trọng cho các nhà nghiên cứu của họ. Trong các văn phòng khổng lồ ở các thành phố trên khắp đất nước, những người lao động lương thấp ngồi trên bàn dài hàng giờ đồng hồ, ghi chép các file âm thanh và phác thảo các đối tượng bằng hình ảnh, để làm cho dữ liệu do dân số đông đúc của Trung Quốc tạo ra hữu ích hơn. Nhưng để Trung Quốc trở thành quốc gia có hệ sinh thái về trí tuệ nhất tạo tốt nhất như của Hoa Kỳ, thì lượng dữ liệu khổng lồ của họ sẽ phải được sàng lọc bằng các thuật toán nhận dạng các mẫu vượt xa những gì con người nắm bắt được. Và ngay cả các giám đốc điều hành của công ty tìm kiếm khổng lồ Baidu của Trung Quốc cũng thừa nhận rằng các tài năng hàng đầu trong ngành trí tuệ nhân tạo đang sinh sống ở phương Tây.   Trong lịch sử, Trung Quốc đã phải vật lộn để giữ chân các ứng viên ưu tú, hầu hết trong số họ ra đi để theo học tại các khoa Khoa học máy tính hàng đầu của Hoa Kỳ, trước khi làm việc tại các công ty thú vị hơn, có nguồn lực tốt hơn ở Thung lũng Silicon. Nhưng điều này có thể đang thay đổi. Chính quyền Trump đã gây khó khăn cho sinh viên Trung Quốc đang học tập tại Hoa Kỳ và những người có khả năng bị nghi ngờ. Một nhà khoa học máy học hàng đầu tại Google gần đây đã mô tả các hạn chế về thị thực là “một trong những nút thắt lớn nhất đối với năng suất nghiên cứu tập thể của chúng tôi”.   Trong khi đó, các bộ phận khoa học máy tính của Trung Quốc đã dốc hết sức vào trí tuệ nhân tạo. Ba trong số mười trường đại học về trí tuệ nhân tạo hàng đầu thế giới, xét về số lượng nghiên cứu mà họ xuất bản, hiện nằm ở Trung Quốc. Và đó là thành tựu trước khi đất nước này hoàn thành việc xây dựng 50 trung tâm nghiên cứu trí tuệ nhân tạo mới theo yêu cầu của “Kế hoạch hành động đổi mới về trí tuệ nhân tạo cho các tổ chức giáo dục đại học” của Tập. Năm 2017, các công ty Trung Quốc đã thu hút 36% vốn đầu tư tư nhân toàn cầu vào ngành trí tuệ nhân tạo, tăng từ chỉ 3% vào năm 2015. Các kỹ sư tài năng của Trung Quốc có thể đi học ở trong nước và làm việc cho một công ty toàn cầu của Trung Quốc, như TikTok, sau khi tốt nghiệp.   Trung Quốc vẫn sẽ tụt hậu so với Mỹ về phần cứng máy tính trong thời gian tới. Giống như dữ liệu phải được xử lý bằng các thuật toán để trở nên hữu ích, các thuật toán phải được khởi tạo trong các tầng vật lý - cụ thể là trong các phần bên trong của các vi mạch. Các cấu trúc silicon mảnh như tơ nhện này phức tạp đến mức một vài nguyên tử bị thiếu có thể định tuyến lại các xung điện thông qua các công tắc nơ-ron của con chip. Những con chip tinh vi nhất được cho là những vật thể phức tạp nhất mà con người từng chế tạo ra. Chúng chắc chắn quá phức tạp để có thể nhanh chóng bị đánh cắp bởi các gián điệp công nghệ của Trung Quốc.   Các công ty Trung Quốc vẫn chưa thể xây dựng những phòng chế tạo chip tốt nhất, vốn tiêu tốn hàng tỷ đô-la và dựa trên nhiều thập kỷ tích lũy kiến thức tập thể trong nhiều ngành. Được làm mát bằng nitơ và cách ly địa chấn, để ngăn tiếng ồn của một chiếc xe tải chạy qua làm hỏng vi mạch trong ống nghiệm, những căn phòng tự động này cũng tinh xảo không kém gì những tấm silicon thành phẩm của chúng. Và những nơi sản tốt nhất vẫn chủ yếu ở Hoa Kỳ, Tây Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan.   Chính phủ Hoa Kỳ vẫn có thể hạn chế phần cứng chảy vào Trung Quốc, một tình trạng khiến Đảng Cộng sản phẫn nộ. Khi chính quyền Trump cấm bán vi mạch cho ZTE vào tháng 4/2018, Frank Long, nhà phân tích chuyên về lĩnh vực trí tuệ nhân tạo của Trung Quốc, mô tả đây là lời cảnh tỉnh đối với Trung Quốc ngang bằng với kinh nghiệm của Hoa Kỳ về lệnh cấm vận dầu mỏ Ả-Rập. Nhưng cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo đã mang đến cho Trung Quốc một cơ hội đi tắt đón đầu hiếm có. Cho đến gần đây, hầu hết các chip được thiết kế với kiến trúc linh hoạt cho phép thực hiện nhiều loại hoạt động tính toán. Nhưng trí tuệ nhân tạo chạy nhanh nhất trên các chip tùy chỉnh, giống như những chip mà Google sử dụng cho điện toán đám mây của mình để phát hiện ngay khuôn mặt của con gái bạn trong hàng nghìn bức ảnh. (Apple thực hiện nhiều thao tác này trên iPhone bằng chip tùy chỉnh vận hành kiểu neuron người). Vì mọi người đều lần đầu tiên sản xuất các chip tùy chỉnh này nên Trung Quốc cũng không kém xa: Baidu và Alibaba đang chế tạo chip tùy chỉnh cho phương pháp ‘học sâu’ (deep learning). Và vào tháng 8 năm 2019, Huawei đã tiết lộ một con chip ‘học máy’ di động. Thiết kế của nó đến từ Cambricon, có lẽ là công ty khởi nghiệp có giá trị nhất trong ngành sản xuất chip toàn cầu, được thành lập bởi các đồng nghiệp của Tăng tại Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.   Đến năm 2030, Trung Quốc có thể thống trị về trí tuệ nhân tạo Đất nước này có thể sẽ có nền kinh tế lớn nhất thế giới, và sẽ có những khoản chi mới dành cho các ứng dụng về trí tuệ nhân tạo trong quân đội của mình. Nó có thể có nhiều máy bay không người lái tinh vi nhất. Nó có thể có các hệ thống vũ khí tự động có thể dự báo hành động của kẻ thù sau một thời gian ngắn tiếp xúc với chiến trường và đưa ra các quyết định trên chiến trường nhanh hơn nhiều so với nhận thức của con người. Các thuật toán phát hiện tên lửa của nó có thể làm mất lợi thế hạt nhân của cuộc tấn công phủ đầu của Hoa Kỳ. Trí tuệ nhân tạo có thể làm đảo lộn cán cân quyền lực toàn cầu.   *   TRÊN ĐƯỜNG RỜI Viện Tự động hóa, Tăng đưa tôi đi tham quan phòng thí nghiệm chế tạo robot của anh. Trong căn phòng có trần cao, các sinh viên đang nghịch ngợm với một cánh tay kim loại khổng lồ quái dị và một robot hình người nhỏ được bọc trong một bộ xương màu xám trong khi Tăng kể cho tôi nghe về công việc của anh ấy làm mô hình não. Anh nói rằng hiểu cấu trúc của bộ não là cách chắc chắn nhất để hiểu bản chất của trí thông minh.   Tôi đã hỏi Tăng rằng tương lai của trí tuệ nhân tạo sẽ mở ra như thế nào. Anh nói rằng mình có thể tưởng tượng phần mềm được mô hình hóa mô phỏng bộ não sẽ đạt được một loạt khả năng. Anh nói rằng nó có thể đạt được một số cảm giác tự nhận ra, và sau đó từ từ nhận thức về quá khứ và tương lai. Nó có thể phát triển các động lực và giá trị. Giai đoạn cuối cùng của quá trình tiến hóa được hỗ trợ của nó sẽ đến khi nó hiểu các tác nhân khác đáng được đồng cảm. Tôi hỏi anh quá trình này sẽ mất bao lâu. Tăng nói: “Tôi nghĩ một cỗ máy như vậy có thể được chế tạo vào năm 2030”.   Trước khi chia tay Tăng, tôi yêu cầu anh tưởng tượng mọi thứ đang diễn ra theo một cách khác. ”Giả sử anh hoàn thành mô hình kỹ thuật số, độ phân giải cao của bộ não,” tôi nói. “Và giả sử mô hình đó đạt được một dạng ý thức thô sơ nào đó. Và giả sử, theo thời gian, anh có thể cải thiện nó, cho đến khi nó vượt trội hơn con người trong mọi khả năng nhận thức, ngoại trừ sự đồng cảm. Anh giữ nó ở chế độ an toàn cho đến khi bạn đạt được bước cuối cùng đó. Nhưng rồi một ngày, cơ quan an ninh của chính quyền phá cửa văn phòng của anh. Họ biết anh có sản phẩm trí tuệ nhân tạo này trên máy tính của mình. Họ muốn sử dụng nó làm phần mềm cho một nền tảng phần cứng mới, một chiến binh nhân tạo hình người. Họ đã sản xuất hàng tỷ chiến binh nhân tạo, và họ sẽ không tâm liệu chúng có đạt được sự đồng cảm hay không. Họ yêu cầu mật khẩu của anh. Anh có nói cho họ biế mật không?. Tăng nói: “Tôi sẽ phá hủy máy tính của mình và bỏ đi. Tại thời điểm đó, đã đến lúc tôi phải nghỉ việc và tập trung vào các robot có thể sáng tác nghệ thuật.” Nếu bạn đang tìm kiếm một triết gia-quân vương để lập biểu đồ quỹ đạo phát triển về đạo đức cho trí tuệ nhân tạo, bạn có thể làm tệ hơn Tăng. Nhưng con đường phát triển của trí tuệ nhân tạo sẽ được định hình bởi các hệ thống chồng chéo của các nền chính trị của các địa phương, các quốc gia và toàn cầu, chứ không phải bởi một vị vua-triết gia khôn ngoan và nhân từ. Đó là lý do tại sao việc Trung Quốc vươn lên vị trí hàng đầu về trí tuệ nhân tạo là một viễn cảnh đầy đe dọa: Cấu trúc chính trị của đất nước này đang khuyến khích, thay vì kiềm chế, cách sử dụng tồi tệ nhất của công nghệ này.   Ngay cả ở Hoa Kỳ, một nền dân chủ với các quyền con người được bảo vệ một cách hợp hiến, người Mỹ đang đấu tranh mạnh mẽ để ngăn chặn sự xuất hiện của một nhà nước theo dõi được xây dựng thông qua hợp tác công-tư (PPP). Nhưng ít nhất Hoa Kỳ có những cơ cấu chính trị có khả năng chống lại một số cơ hội. Ở Trung Quốc, trí tuệ nhân tạo sẽ chỉ bị hạn chế theo nhu cầu của ĐCTQ. Cuối cùng, khi tôi rời khỏi Viện thì cũng đã gần trưa. Mưa trong ngày đã sắp ngớt. Tăng đặt cho tôi một chiếc ô-tô và dẫn tôi đến đó, tay cầm một chiếc ô trên đầu. Tôi tìm đường đến Tử Cấm Thành, nơi ngự trị của đế quốc Bắc Kinh lịch sử. Ngay cả chuyến đi ngắn ngày đến trung tâm thành phố này cũng giúp tôi tiếp xúc với tình trạng theo dõi của Trung Quốc. Trước khi bước vào Quảng trường Thiên An Môn, cả hộ chiếu và khuôn mặt của tôi đều được chụp lại, một trải nghiệm mà tôi cảm thấy tê tái. Trong chính quảng trường, cảnh sát cầm lá chắn chống đạn to bằng người chạy theo hàng đơn, len lỏi qua những con đường đông đúc của khách du lịch. Sự hiện diện dày đặc của cảnh sát là một lời nhắc nhở ớn lạnh về những sinh viên biểu tình đã bị sát hại ở đây vào năm 1989. Bức Vạn Lý Tưởng Lửa do trí tuệ nhân tạo đang canh giữ của Trung Quốc được xây dựng, một phần, để đảm bảo rằng vụ thảm sát không bao giờ được thảo luận trên mạng Internet của nước này. Để né tránh các nhà kiểm duyệt bằng thuật toán, các nhà hoạt động vì nhân quyền của Trung Quốc dựa vào hình tượng ‘Người đàn ông chặn xe tăng’ tiếp cận một con vịt cao su để tưởng nhớ vụ giết hại sinh viên . Sự kiểm duyệt với sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo của ĐCSTQ đã vượt xa sự kiện Thiên An Môn. Đầu năm nay, chính phủ đã bắt giữ các lập trình viên Trung Quốc đang cố gắng lưu giữ những bản tin đã bị xóa về đại dịch virus corona. Một số bài báo trong cơ sở dữ liệu của họ đã bị cấm vì chúng chỉ trích Tập và ĐCTQ. Chúng chỉ sống sót nhờ người dùng Internet đăng lại chúng trên mạng xã hội, xen kẽ với ngôn ngữ mã hóa và biểu tượng cảm xúc được thiết kế để né các thuật toán. Những cách làm như thế này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn: các nhà phê bình trong nước của Tập từng chế nhạo ông bằng những hình ảnh của gấu Pooh, nhưng những hình ảnh đó hiện bị cấm ở Trung Quốc. Khả năng chỉnh sửa lịch sử và văn hóa của ĐCTQ bằng vũ lực sẽ trở nên sâu rộng và chính xác hơn khi trí tuệ nhân tạo của Trung Quốc được cải thiện. Việc giành lấy quyền lực từ một chính phủ kiểm soát triệt để môi trường thông tin sẽ rất khó khăn. Có thể cần đến một triệu hành vi bất tuân dân sự, giống như kịch bản phá hủy máy tính xách tay mà Tăng tưởng tượng. Công dân Trung Quốc sẽ phải sát cánh cùng sinh viên của họ. Ai có thể nói họ có thể chịu đựng những khó khăn nào? Công dân Trung Quốc dường như chưa cực đoan hóa việc chống lại sự theo dõi. Đại dịch thậm chí có thể khiến mọi người ít coi trọng quyền riêng tư hơn, như một cuộc thăm dò ban đầu ở Hoa Kỳ cho thấy. Cho đến nay, Tập coi phản ứng của chính phủ là một “cuộc chiến tranh nhân dân” đã chiến thắng, một cụm từ cũ khác của Mao, ám chỉ việc huy động toàn dân để đánh tan một lực lượng xâm lược. Người dân Trung Quốc bây giờ có thể dễ chịu hơn trước khi có virus. Nhưng bằng chứng cho thấy những người trẻ tuổi của Trung Quốc - ít nhất là một số người - đã phẫn nộ với việc chính phủ giữ bí mật ban đầu về sự bùng phát đại dịch. Đối với tất cả những gì chúng ta biết, một số phong trào thanh niên mới ở đại lục đang chờ đợi thời điểm thích hợp để thực hiện một buổi trình diễn về dân chủ. Người dân Hồng Kông chắc chắn cảm nhận được sự nguy hiểm của thời điểm công nghệ-chính trị này. Đêm trước khi tôi đến Trung Quốc, hơn 1 triệu người biểu tình đã đổ ra đường phố tại Hồng Kông. (Tờ báo nhà nước tự do trong khách sạn Bắc Kinh của tôi đã mô tả họ, một cách giả dối, là những người ủng hộ cảnh sát.) Rất nhiều người đã cầm ô vàng trên đầu, đoàn kết với những người biểu tình sinh viên từ nhiều năm trước, và đeo khẩu trang. Một số người đã đạp đổ một cột đèn vì nghi rằng nó có chứa camera nhận dạng khuôn mặt. Kể từ đó, Tập đã siết chặt hơn khu vực này bằng “luật an ninh quốc gia” và có rất ít điều mà người Hồng Kông có thể làm được, với điều kiện tối thiểu là phải có sự giúp đỡ từ một phong trào khác trong đại lục. Trong chuyến thăm Quảng trường Thiên An Môn, tôi không thấy bất kỳ người biểu tình nào. Mọi người chủ yếu đến nghỉ ngơi, tạo dáng chụp ảnh selfie với bức chân dung ngoại cỡ của Mao. Họ cầm ô, nhưng chỉ để che ánh nắng Mặt Trời tháng Tám. Đi giữa họ, tôi không ngừng nghĩ về sự ngẫu nhiên của lịch sử: Các hệ thống chính trị hạn chế một công nghệ trong quá trình phát triển ban đầu của nó đã định hình sâu sắc tương lai toàn cầu chung của chúng ta. Chúng ta đã học được điều này từ những cuộc phiêu lưu của chúng ta trong việc đốt cháy carbon. Phần lớn quỹ đạo chính trị của hành tinh có thể phụ thuộc vào mức độ nguy hiểm mà người dân Trung Quốc nhận thức được khi tưởng tượng về viễn cảnh trí tuệ nhân tạo nằm trong tay một chính quyền trung ương hóa. Cho đến khi họ đảm bảo được quyền tự do cá nhân của mình, với một cái giá không thể tưởng tượng được, những người tự do ở khắp mọi nơi sẽ phải nuôi hy vọng rằng những cỗ máy thông minh nhất thế giới sẽ được sản xuất ở nơi khác, bên ngoài Trung Quốc./. * ________________________________________ ROSS ANDERSEN là Phó Tổng Biên tập của The Atlantic. Bài báo này sẽ xuất hiện trong ấn bản in vào tháng 9 năm 2020 với tiêu đề “Khi Trung Quốc nhìn thấy tất cả”. (Nguồn: https://www.theatlantic.com/.../china-ai.../614197/)
  • KHI TRUNG QUỐC NHÌN THẤY TẤT CẢ: NHÀ TÙ TRÒN ĐANG HIỆN DIỆN Ở ĐÂY
    14/ 03/ 2023
      KHI TRUNG QUỐC NHÌN THẤY TẤT CẢ: NHÀ TÙ TRÒN ĐANG HIỆN DIỆN Ở ĐÂY Ross Andersen Nguyễn Trung Kiên lược dịch (kỳ 1/2)     PHÍA TÂY BẮC TỬ CẤM THÀNH, bên ngoài Đường vành đai Ba, Viện Hàn Lâm khoa học Trung Quốc đã dành bảy thập kỷ để xây dựng một khu tập trung các phòng thí nghiệm quốc gia. Gần trung tâm là Viện Tự động hóa, một tòa nhà màu xanh bạc bóng bẩy được bao quanh bởi các cột gắn camera theo dõi. Đây là một viện nghiên cứu cơ bản. Các nhà khoa học máy tính của Viện đang tìm hiểu những bí ẩn cơ bản của trí tuệ nhân tạo. Những đổi mới công nghệ thiết thực hơn của họ - nhận diện bằng mống mắt, tổng hợp giọng nói dựa trên dữ liệu đám mây - được chuyển giao cho các gã khổng lồ công nghệ của Trung Quốc, cho các công ty khởi nghiệp trong ngành trí tuệ nhân tạo, và trong một số trường hợp là cho Quân đội Trung Quốc. Tôi đến thăm Viện này vào một sáng mưa mùa Hè năm 2019. Những người giỏi nhất và sáng giá nhất Trung Quốc vẫn đang lê la sau giờ làm, ăn mặc giản dị với quần áo chơi bóng rổ hoặc quần tập yoga, AirPod bên tai. Trong túi, tôi có một chiếc điện thoại đã bị xóa sạch bộ nhớ; trong ba-lô là một máy tính bị xóa sạch dữ liệu – các biện pháp phòng ngừa tiêu chuẩn dành cho các nhà báo phương Tây ở Trung Quốc. Việc đến Trung Quốc với công việc nhạy cảm luôn có nguy cơ bị đe dọa bởi các cuộc tấn công mạng và phần mềm độc hại. Năm 2019, các quan chức Bỉ trong một phái đoàn thương mại nhận thấy dữ liệu di động của họ đã bị chặn bởi một cột ăng-ten được bật lên bên ngoài khách sạn của họ ở Bắc Kinh. Sau khi bị kiểm tra bởi lớp an ninh của Viện, tôi được yêu cầu đợi ở dưới sảnh với sự theo dõi của camera. Trên các bức tường là áp-phích của các nhà lãnh đạo hậu chiến tự mãn nhất của Trung Quốc. Mao Trạch Đông cao lớn trong bộ quần áo đại cán bốn túi đặc trưng của mình. Trông ông thanh thản, như thể đang hài lòng vì đã giải phóng Trung Quốc khỏi ách thống trị của phương Tây. Bên cạnh ông là một bức ảnh đen trắng mờ nhạt của Đặng Tiểu Bình đến thăm Viện trong những năm cuối đời, sau khi các cuộc cải cách kinh tế của ông đã đưa Trung Quốc vào con đường giành lại vai trò cường quốc truyền thống trên toàn cầu. Áp-phích nổi bật nhất của sảnh đợi là ảnh Tập Cận Bình trong bộ vest đen sắc nét. Vị Chủ tịch Nước đương nhiệm của Trung Quốc và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã quan tâm sâu sắc đến Viện này. Công việc của Viện là một phần của chiến lược trí tuệ nhân tạo vĩ đại mà Tập đã đặt ra trong một loạt bài phát biểu Tập nói rằng ông muốn Trung Quốc, vào cuối năm nay, có thể cạnh tranh với các quốc gia trí tuệ nhân tạo hàng đầu trên thế giới, một cột mốc mà hiện nay đất nước này đã đạt được rồi. Và ông muốn Trung Quốc đạt được vị thế thống trị về trí tuệ nhân tạo vào năm 2030. Những tuyên bố của Tập về trí tuệ nhân tạo có một khía cạnh đầy hung hãn. Trí tuệ nhân tạo đã được ứng dụng trong hầu hết mọi lĩnh vực của con người, từ dịch nhanh ngôn ngữ nói đến phát hiện sớm các đợt bùng phát virus. Nhưng Tập cũng muốn sử dụng sức mạnh phân tích tuyệt vời của trí tuệ nhân tạo để đưa Trung Quốc lên đỉnh cao của sự theo dõi. Ông muốn xây dựng một hệ thống kỹ thuật số toàn diện để kiểm soát xã hội, được thực hiện bởi các thuật toán để đưa ra dự báo nhằm xác định những người bất đồng chính kiến tiềm năng theo thời gian thực. Chính quyền Trung Quốc đã từng sử dụng các sự kiện lịch sử lớn để giới thiệu và thực hiện các biện pháp theo dõi. Trước thềm Thế vận hội Bắc Kinh năm 2008, các cơ quan an ninh của Trung Quốc đã đạt tới mức độ kiểm soát mới đối với mạng Internet của nước này. Trong thời kỳ bùng phát virus corona ở Trung Quốc, chính quyền Tập đã dựa nhiều vào các công ty tư nhân vốn đang sở hữu dữ liệu cá nhân nhạy cảm. Bất kỳ thỏa thuận chia sẻ dữ liệu khẩn cấp nào được thực hiện sau những cánh cửa đóng kín trong thời kỳ đại dịch đều có thể trở thành vĩnh viễn. Trung Quốc đã có hàng trăm triệu camera theo dõi. Chính quyền Tập hy vọng sẽ sớm đạt được mức độ phủ sóng camera theo dõi toàn diện đối với các khu vực công cộng quan trọng. Phần lớn cảnh quay do các camera của Trung Quốc thu thập được phân tích cú pháp bằng các thuật toán đều giúp chỉ ra các loại đe dọa về an ninh. Trong tương lai gần, mọi người dân khi bước vào khu vực công cộng có thể được xác định, ngay lập tức, bằng cách sử dụng trí tuệ nhân tạo để tích hợp họ với một khối lượng cực kỳ khổng lồ các dữ liệu cá nhân, bao gồm mọi giao tiếp bằng ký tự và giản đồ cấu tạo protein độc nhất của cơ thể họ. Theo thời gian, các thuật toán sẽ có thể xâu chuỗi các điểm dữ liệu lại với nhau từ nhiều nguồn - hồ sơ du lịch, bạn bè và cộng sự, các thói quen đọc sách, các lần mua hàng - để dự đoán sự phản kháng chính trị trước khi nó xảy ra. Chính quyền Trung Quốc có thể sớm đạt được một sự siết chặt chính trị chưa từng có đối với hơn 1 tỷ dân. Trong thời kỳ đầu của đợt bùng phát virus corona, công dân Trung Quốc phải chịu một hình thức chấm điểm rủi ro. Một thuật toán đã chỉ định để dán nhãn cho mỗi người dân - xanh lá cây, vàng hoặc đỏ - để xác định khả năng họ di chuyển hoặc đi vào các tòa nhà tại các siêu đô thị tại Trung Quốc. Trong một hệ thống kỹ thuật số nhằm kiểm soát xã hội đầy phức tạp, những nhãn được dán như thế này cũng có thể được sử dụng để đánh giá thái độ chính trị của mỗi người dân. Một phiên bản thô sơ của hệ thống như vậy đã vận hành tại Tân Cương, vùng lãnh thổ phía Tây Bắc của Trung Quốc, nơi hơn 1 triệu người Duy Ngô Nhĩ theo đạo Hồi đã bị giam cầm - nơi giam giữ lớn nhất đối với một nhóm thiểu số tôn giáo kể từ khi Đức Quốc xã sụp đổ. Một khi Tập hoàn thiện hệ thống này ở Tân Cương, sẽ không có giới hạn công nghệ nào ngăn cản ông mở rộng khả năng theo dõi dựa trên trí tuệ nhân tạo trên khắp Trung Quốc. Ông cũng có thể xuất khẩu nó ra nước ngoài, giúp cho toàn bộ thế hệ các nhà chuyên chế có thể cố thủ trong quyền lực. Trung Quốc gần đây đã bắt tay vào một số dự án cơ sở hạ tầng đầy tham vọng ở nước ngoài - xây dựng siêu đô thị, mạng lưới đường sắt cao tốc, chưa kể đến Sáng kiến 'Vành đai và Con đường'. Nhưng những điều này sẽ không định hình lại lịch sử giống như những gì cơ sở hạ tầng kỹ thuật số của Trung Quốc đang thực hiện, vốn có thể thay đổi cán cân quyền lực giữa cá nhân và nhà nước trên toàn thế giới. Các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ trên khắp các diễn đàn chính trị đều lo ngại về viễn cảnh này. Michael Kratsios (từng là cấp dưới của đồng sáng lập viên Peter Thiel của Paypa), hiện đang là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phụ trách nghiên cứu và kỹ thuật và được Donald Trump chọn làm Giám đốc Công nghệ của Chính phủ Hoa Kỳ, nói với tôi rằng sự lãnh đạo công nghệ từ các quốc gia dân chủ “chưa bao giờ trở nên cấp bách hơn là lúc này” và rằng “nếu chúng ta muốn đảm bảo rằng các giá trị phương Tây được thấm đẫm trong các công nghệ của tương lai, chúng ta cần đảm bảo rằng mình đang dẫn đầu các công nghệ đó”. Bất chấp những bước tiến đáng kể của Trung Quốc, các nhà phân tích công nghiệp kỳ vọng Hoa Kỳ sẽ giữ được vị trí dẫn đầu về trí tuệ nhân tạo hiện tại của mình trong ít nhất một thập kỷ nữa. Nhưng điều này chỉ là một tình huống tốt trong một thời điểm tồi: Trung Quốc đã và đang phát triển các công cụ theo dõi mới đầy mạnh mẽ và xuất khẩu chúng cho hàng chục quốc gia đã và chuẩn bị trở thành chuyên chế trên toàn thế giới. Trong vài năm tới, những công nghệ đó sẽ được cải tiến và tích hợp vào các hệ thống theo dõi toàn diện mà các nhà độc tài có thể vận hành dễ dàng. Sự xuất hiện của một khối các quốc gia độc tài dựa trên trí tuệ nhân tạo do Trung Quốc dẫn đầu có thể làm biến dạng địa chính trị của thế kỷ này. Nó có thể ngăn hàng tỷ người, tại nhiều vùng rộng lớn trên toàn cầu, không bao giờ được đảm bảo bất kỳ biện pháp tự do chính trị nào. Và cho dù các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ có giả vờ kiểu gì đi nữa, thì chỉ có công dân Trung Quốc mới có thể ngăn chặn được điều này. Tôi đã đến Bắc Kinh để tìm kiếm một số dấu hiệu cho thấy họ có thể thực hiện được điều này. * KHOẢNH KHẮC CÔNG NGHỆ-CHÍNH TRỊ NÀY đã xuất hiện từ lâu. Trung Quốc đã có vài thế kỷ trong lịch sử 5.000 năm của mình nắm vị trí tiên phong về công nghệ thông tin. Cùng với Sumer và Mesoamerica, Trung Quốc là một trong ba nơi mà chữ viết được phát minh một cách độc lập, cho phép thông tin được lưu trữ bên ngoài bộ não con người. Vào thế kỷ thứ hai sau Công nguyên, người Trung Quốc phát minh ra giấy. Công nghệ lưu trữ thông tin giá rẻ, có thể ràng buộc này cho phép dữ liệu - hồ sơ thương mại về Con đường Tơ lụa, thông cáo quân sự, thư từ giữa các thành viên trong giới tinh hoa cầm quyền - đi khắp đế chế trên những con ngựa, được những người du mục thảo nguyên bên ngoài Vạn Lý Trường Thành nuôi, để gia tăng tốc độ truyền tin. Dữ liệu bắt đầu lưu hành nhanh hơn vài thế kỷ sau đó, khi các nghệ nhân thời Đường hoàn thiện kỹ thuật in khắc gỗ, một công nghệ thông tin đại chúng giúp quản lý một nhà nước khổng lồ và đang bành trướng. Là người cai trị các tổ chức xã hội phức tạp lớn nhất thế giới, các hoàng đế Trung Quốc cổ đại hiểu rất rõ mối quan hệ giữa các luồng thông tin và quyền lực cũng như giá trị của việc theo dõi. Trong thế kỷ XI, một hoàng đế nhà Tống nhận ra rằng các thành quách có tường thành đầy trang nhã của Trung Quốc đã trở nên quá nhiều khiến Bắc Kinh không thể theo dõi hết, vì vậy ông đã dùng người dân địa phương để theo dõi các quan chức địa phương. Vài thập kỷ trước buổi bình minh của kỷ nguyên kỹ thuật số, Tưởng Giới Thạch đã sử dụng truyền thống tự theo dõi này, yêu cầu người dân theo dõi những người bất đồng chính kiến xung quanh họ, để các cuộc nổi dậy của những người cộng sản có thể bị dập tắt ngay từ trong trứng nước. Khi Mao lên nắm quyền, ông sắp xếp các thành phố thành những mạng lưới, biến mỗi ô vuông thành đơn vị vận hành độc lập, nơi các điệp viên địa phương luôn “để mắt đến” các hành vi phản cách mạng, dù tầm thường đến đâu. Trong đợt bùng phát virus corona ban đầu, các ứng dụng truyền thông xã hội của Trung Quốc đã quảng bá đường dây nóng để mọi người có thể báo cáo những người bị nghi ngờ đang che giấu các triệu chứng. Tập đã sử dụng cụm từ 'đôi mắt tinh anh', với tất cả sự cộng hưởng lịch sử của nó, để đặt tên cho các camera theo dõi được hỗ trợ bởi trí tuệ nhân tạo sẽ sớm lan rộng khắp Trung Quốc. Với trí tuệ nhân tạo, Tập có thể xây dựng bộ máy chuyên chế có năng lực đàn áp lớn nhất trong lịch sử, mà không cần đến nguồn nhân lực mà Mao từng cần, để đưa thông tin về bất đồng chính kiến vào một chỗ tập trung duy nhất. Trong các công ty khởi nghiệp trong ngành trí tuệ nhân tạo nổi bật nhất Trung Quốc - SenseTime, CloudWalk, Megvii, Hikvision, iFlytek, Meiya Pico - Tập đã tìm được các đối tác thương mại luôn sẵn sàng. Và ở vùng của người thiểu số theo đạo Hồi giáo tại Tân Cương, ông đã tìm thấy một lượng dân cư của mình để tiến hành thử nghiệm. ĐCSTQ từ lâu đã nghi ngờ tôn giáo, và không chỉ do ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx. Chỉ một thế kỷ rưỡi trước - vốn chỉ là ‘ngày hôm qua’ trong trong ký ức của một nền văn minh 5.000 năm tuổi - Hồng Tú Toàn, một nhà thần bí bán-Thiên chúa giáo được các nhà truyền giáo phương Tây cải đạo, đã phát động Cuộc nổi dậy Nghĩa Hòa Đoàn, một chiến dịch khải huyền kéo dài 14 năm vốn có thể đã giết chết nhiều người hơn cuộc Đại chiến Thế giới lần thứ Nhất. Ngày nay, trong hệ thống chính trị độc đảng của Trung Quốc, tôn giáo là nguồn thay thế của quyền lực độc tài tối thượng, có nghĩa là nó phải cùng hợp tác với chính quyền hoặc bị tiêu diệt. Đến năm 2009, người Duy Ngô Nhĩ ở Trung Quốc đã trở nên mệt mỏi sau nhiều thập kỷ bị phân biệt đối xử và bị tịch thu đất đai. Họ phát động các cuộc biểu tình và nhiều vụ tấn công liều chết nhằm vào cảnh sát Trung Quốc. Năm 2014, Tập đã thẳng tay đàn áp, chỉ đạo chính quyền Khu tự trị Tân Cương phá hủy các nhà thờ Hồi giáo và biến các khu dân cư của người Duy Ngô Nhĩ thành đống đổ nát. Hơn 1 triệu người Duy Ngô Nhĩ đã bị đẩy vào các trại tập trung. Nhiều người bị tra tấn và phải lao động cưỡng bức. Những người Duy Ngô Nhĩ được tha khỏi các trại tập trung hiện trở thành nhóm dân cư bị theo dõi đông nhất trên Trái Đất. Không phải tất cả các biện pháp theo dõi đều là biện pháp kỹ thuật số. Chính quyền Trung Quốc đã chuyển hàng nghìn “anh chị em” người Hán đến sống tại các thành phố cổ đại từng nằm trên Con đường Tơ lụa tại Tân Cương, để theo dõi sự đồng hóa cưỡng bức của người Duy Ngô Nhĩ với văn hóa Trung Quốc chính thống. Họ dùng bữa với gia đình, và một số “anh cả” ngủ cùng giường với vợ của những người đàn ông Duy Ngô Nhĩ đang bị giam giữ. Trong khi đó, các cảm biến tích hợp với hệ thống trí tuệ nhân tạo ẩn nấp ở khắp mọi nơi, kể cả trong ví và túi quần của người Duy Ngô Nhĩ. Theo nhà nhân chủng học Darren Byler, một số người Duy Ngô Nhĩ đã chôn điện thoại di động chứa kinh sách Hồi giáo, hoặc thậm chí giấu thẻ nhớ chứa dữ liệu của họ vào bánh bao để bảo vệ sự an toàn, khi chiến dịch diệt chủng về văn hóa của Tập đạt đến đỉnh điểm. Nhưng cảnh sát đã buộc họ phải cài đặt ứng dụng theo dõi trên điện thoại mới của họ. Các ứng dụng sử dụng các thuật toán để truy tìm “các virus ý thức hệ” suốt ngày đêm. Họ có thể quét nhật ký trò chuyện để tìm các câu Kinh Cô-ran và tìm kiếm chữ Ả-rập trong các đoạn tin nhắn và các file hình ảnh khác. Người Duy Ngô Nhĩ không thể sử dụng các kỹ thuật vượt tường lửa nào. Việc cài đặt VPN có thể dẫn tới một cuộc điều tra, vì vậy họ không thể tải xuống WhatsApp hoặc bất kỳ phần mềm trò chuyện mã hóa bị cấm nào khác. Mua thảm cầu nguyện trực tuyến, lưu trữ các bản sao kỹ thuật số các kinh sách Hồi giáo và tải xuống các bài giảng từ một giáo sĩ yêu thích đều là những hoạt động đầy rủi ro. Nếu một người Duy Ngô Nhĩ sử dụng hệ thống thanh toán của WeChat để quyên góp cho nhà thờ Hồi giáo, các nhà chức trách có thể chú ý. Nhiều ứng dụng theo dõi hoạt động song song với cảnh sát, những người kiểm tra điện thoại tại các trạm kiểm soát, kiểm tra nhanh các cuộc gọi và tin nhắn gần đây. Ngay cả một tổ hợp ký tự kỹ thuật số - ví dụ như một tin nhắn gửi cho một nhóm người vừa dự lễ tại một nhà thờ Hồi giáo nào đó - đều có thể dẫn đến việc người gửi tin bị giam giữ. Việc ngừng hoàn toàn các phương tiện truyền thông xã hội không phải là giải pháp, vì bản thân việc không hoạt động kỹ thuật số có thể làm dấy lên nghi ngờ. Cảnh sát được yêu cầu lưu ý khi người Duy Ngô Nhĩ đi chệch hướng khỏi bất kỳ kiểu hành vi bình thường nào của họ. Cơ sở dữ liệu của cảnh sát muốn biết liệu người Duy Ngô Nhĩ có bắt đầu rời nhà của họ qua cửa sau thay vì cửa trước hay không. Nó muốn biết liệu họ có dành ít thời gian nói chuyện với hàng xóm hơn trước đây hay không. Việc sử dụng điện thoại được theo dõi bởi một thuật toán nhằm phát hiện sự sử dụng bất thường nào đó có thể giúp chỉ ra một cư dân chưa đăng ký điện thoại với cảnh sát. Người Duy Ngô Nhĩ chỉ có thể đi vài dãy nhà trước khi gặp một trạm kiểm soát được trang bị một trong số hàng trăm nghìn camera theo dõi của Tân Cương. Cảnh quay từ camera được xử lý bằng thuật toán khớp khuôn mặt với ảnh chụp nhanh do cảnh sát chụp khi “kiểm tra sức khỏe”. Tại các cuộc kiểm tra này, cảnh sát trích xuất tất cả dữ liệu họ có thể có từ cơ thể của người Duy Ngô Nhĩ. Họ đo chiều cao và lấy mẫu máu. Họ ghi lại giọng nói và quét ADN. Một số người Duy Ngô Nhĩ thậm chí còn bị buộc phải tham gia vào các thí nghiệm khai thác dữ liệu di truyền, để xem cách ADN của người Duy Ngô Nhĩ tạo ra sự khác biệt của cằm và tai như thế nào so với người Hán. Cảnh sát có thể sẽ lấy đại dịch làm cái cớ để lấy thêm dữ liệu từ các thi thể người Duy Ngô Nhĩ. Phụ nữ Duy Ngô Nhĩ cũng phải chịu khó khám thai. Một số bị buộc phải phá thai hoặc đặt vòng tránh thai. Những phụ nữ khác bị nhà nước ép triệt sản. Cảnh sát đã tách trẻ em một cách trái phép ra khỏi cha mẹ của chúng, những người sau đó bị giam giữ. Các biện pháp như vậy đã làm giảm tỷ lệ sinh ở một số vùng của Tân Cương xuống hơn 60% trong ba năm. Khi người Duy Ngô Nhĩ đến rìa khu phố của họ, một hệ thống tự động sẽ ghi nhận. Hệ thống tương tự theo dõi họ khi họ di chuyển qua các trạm kiểm soát nhỏ hơn, tại ngân hàng, công viên và trường học. Khi họ bơm xăng, hệ thống có thể xác định xem họ có phải là chủ xe hay không. Tại đường vành đai của thành phố, họ buộc phải bước ra khỏi ô-tô của mình, vì vậy khuôn mặt và thẻ căn cước của họ có thể được chụp tự động một lần nữa. Nhiều người Duy Ngô Nhĩ đã bị tịch thu hộ chiếu. Những người Duy Ngô Nhĩ may mắn đang ở nước ngoài được khuyên nên nhanh chóng trở về. Nếu họ không làm như vậy, cảnh sát thẩm vấn sẽ được cử đến nhà người thân và bạn bè của họ. Ra nước ngoài hoàn toàn không phải là lối thoát. Trong cái nhìn lạnh lùng về cách một khối các quốc độc tài trong tương lai có thể vận hành, các đồng minh mạnh mẽ của Tập - ngay cả những người ở các quốc gia đa số theo đạo Hồi như Ai Cập - đã rất vui vẻ khi bắt giữ và trục xuất người Duy Ngô Nhĩ trở về nhà tù lộ thiên là Tân Cương. * TẬP DƯỜNG NHƯ ĐÃ SỬ DỤNG Tân Cương như một phòng thí nghiệm để tinh chỉnh các cảm biến và các năng lực phân tích của ‘nhà tù tròn kỹ thuật số’ mới của mình trước khi mở rộng phạm vi hoạt động trên khắp Trung Quốc. CETC, công ty nhà nước xây dựng phần lớn hệ thống theo dõi của Tân Cương, hiện đang tự hào về các dự án thử nghiệm ở Chiết Giang, Quảng Đông và Thâm Quyến. Theo công ty này, những điều này nhằm tạo “nền tảng vững chắc cho việc triển khai trên toàn quốc” và chúng chỉ đại diện cho một phần của mạng lưới công nghệ theo dõi con người đang kết nối lại với nhau tại Trung Quốc. Trung Quốc là bối cảnh lý tưởng cho một cuộc thử nghiệm theo dõi toàn diện. Người dân của họ dành lượng thời gian khổng lồ để vào trên mạng Internet. Đất nước này có hơn 1 tỷ điện thoại di động, tất cả đều chứa đầy các cảm biến phức tạp. Mỗi truy vấn ghi lại các lệnh tìm kiếm trên công cụ tìm kiếm, các trang web đã truy cập và các lượt thanh toán qua điện thoại di động, vốn phổ biến ở khắp nơi. Khi tôi sử dụng thẻ tín dụng gắn chip để mua cà phê ở khu phố Sanlitun sành điệu của Bắc Kinh, mọi người nhìn tôi chằm chằm như thể tôi đang viết séc. Tất cả các điểm dữ liệu này có thể được đánh dấu thời gian và gắn thẻ vị trí. Và bởi vì một quy định mới yêu cầu các công ty viễn thông phải quét khuôn mặt của bất kỳ ai đăng ký dịch vụ điện thoại di động, dữ liệu của điện thoại giờ đây có thể được gắn vào khuôn mặt của một người cụ thể. SenseTime, công ty đã giúp xây dựng hệ thống theo dõi tại Tân Cương, gần đây đã khoe khoang rằng phần mềm của họ có thể xác định khuôn mặt của những người đang đeo khẩu trang. Một công ty khác, Hanwang, tuyên bố rằng công nghệ nhận dạng khuôn mặt của họ có thể nhận ra khuôn mặt của người đeo khẩu trang chính xác đến 95%. Việc thu thập dữ liệu cá nhân của Trung Quốc thậm chí còn thu được từ những công dân chưa có điện thoại. Ở vùng nông thôn, dân làng đã xếp hàng để được các công ty tư nhân quét khuôn mặt từ nhiều góc độ nhằm đổi lấy dụng cụ nấu nướng. Cho đến gần đây, rất khó để tưởng tượng làm thế nào Trung Quốc có thể tích hợp tất cả những dữ liệu này vào một hệ thống theo dõi duy nhất, nhưng nay thì đã dễ tưởng tượng ra hơn nhiều. Năm 2018, một nhà hoạt động nhân quyền trong lĩnh vực an ninh mạng đã tấn công vào một hệ thống nhận dạng khuôn mặt có vẻ như được kết nối với chính phủ và đang tổng hợp một sự kết hợp đáng ngạc nhiên của các luồng dữ liệu. Hệ thống có khả năng phát hiện người Duy Ngô Nhĩ theo đặc điểm dân tộc của họ và nó có thể biết được mắt hay miệng của người đó đang mở hay đóng, họ có đang cười không, họ có để râu hoặc đeo kính râm hay không. Nó ghi lại ngày, giờ và số sê-ri - tất cả đều có thể theo dõi được đối với người dùng cá nhân - của những điện thoại hỗ trợ Wi-Fi đã đi qua trong tầm phủ sóng của nó. Nó được vận hành bởi Alibaba và tham chiếu đến City Brain, một nền tảng phần mềm được hỗ trợ bởi trí tuệ nhân tạo mà Chính quyền Trung Quốc đã giao nhiệm vụ cho công ty này xây dựng. City Brain là một loại trung tâm thần kinh tự động, có khả năng tổng hợp các luồng dữ liệu từ vô số cảm biến được phân bố khắp không gian đô thị. Nhiều ứng dụng được đề xuất của nó là để thực hiện các chức năng kỹ trị tốt đẹp. Ví dụ, các thuật toán của nó có thể đếm số người và ô-tô, để giúp tính thời gian chờ đèn đỏ và lập kế hoạch cho các tuyến tàu điện ngầm. Dữ liệu từ các thùng rác chứa đầy cảm biến có thể giúp việc thu gom rác thải kịp thời và hiệu quả hơn. Nhưng City Brain và các công nghệ cải tiến của nó cũng sẽ cho phép các hình thức theo dõi tích hợp mới. Một số trong số này sẽ nhận được sự ủng hộ rộng rãi của công chúng: City Brain có thể được huấn luyện để phát hiện những đứa trẻ bị lạc, hay hành lý bị thất lạc của du khách hoặc của những kẻ khủng bố. Nó có thể đánh dấu kẻ cướp, người vô gia cư, hoặc những kẻ bạo loạn. Bất kỳ ai trong bất kỳ loại nguy hiểm nào đều có thể kêu gọi sự giúp đỡ bằng cách vẫy tay theo một cách đặc biệt mà trường quan sát của hệ thống máy tính luôn cảnh giác sẽ nhận ra ngay lập tức. Các cảnh sát viên đeo tai nghe có thể được trợ lý giọng nói dựa trên trí tuệ nhân tạo hướng dẫn đến hiện trường. City Brain sẽ đặc biệt hữu ích trong một trận đại dịch. (Một trong những công ty chị em của Alibaba đã tạo ra ứng dụng mã hóa màu sắc nguy cơ mắc bệnh của công dân, đồng thời âm thầm gửi dữ liệu du lịch và sức khỏe của họ cho cảnh sát). Khi dịch bệnh bùng phát ở Bắc Kinh, một số trung tâm thương mại và nhà hàng trong thành phố bắt đầu quét điện thoại của khách hàng tiềm năng, lấy dữ liệu từ các nhà cung cấp dịch vụ di động để xem liệu họ đã đi du lịch gần đây hay chưa. Các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động cũng gửi cho chính quyền các thành phố danh sách những người đã đến thành phố của họ từ Vũ Hán, nơi virus corona lần đầu tiên được phát hiện. Và các công ty trí tuệ nhân tạo của Trung Quốc đã bắt đầu sản xuất mũ bảo hiểm nhận dạng khuôn mặt được nối mạng tới cảnh sát, với thiết bị hồng ngoại tích hợp nhằm phát hiện xem họ có đang bị sốt hay không, để gửi dữ liệu cho chính quyền. City Brain có thể tự động hóa các quy trình này hoặc tích hợp các luồng dữ liệu của nó. Ngay cả những hệ thống trí tuệ nhân tạo phức tạp nhất của Trung Quốc vẫn còn rất mỏng manh. City Brain vẫn chưa tích hợp đầy đủ các khả năng theo dõi của mình và các hệ thống trước của nó đã gặp phải một số vấn đề về hiệu suất đáng xấu hổ: Vào năm 2018, một trong những camera được hỗ trợ bởi trí tuệ nhân tạo của chính quyền đã nhầm một khuôn mặt vẽ trên thành xe bus thành một người đi bộ. Nhưng phần mềm ngày càng tốt hơn, và không có lý do kỹ thuật nào để nó không thể được triển khai trên quy mô lớn. Các luồng dữ liệu có thể được đưa vào một hệ thống giống như City Brain về cơ bản là không giới hạn. Ngoài các cảnh quay từ 1,9 triệu camera nhận dạng khuôn mặt mà công ty viễn thông Trung Quốc China Tower hợp tác với SenseTime lắp đặt, City Brain có thể thu nhận nguồn cấp dữ liệu từ các camera gắn trên cột đèn và treo trên các góc phố. Nó có thể sử dụng các camera mà cảnh sát Trung Quốc giấu trong mũ giao thông và những camera được gắn cho các sĩ quan, cả sĩ quan mặc quân phục lẫn sĩ quan mặc thường phục. Nhà nước có thể buộc các nhà bán lẻ cung cấp dữ liệu từ camera tại cửa hàng, hiện có thể phát hiện hướng nhìn của người mua hàng vào giá đựng hàng hóa, và có thể sớm nhìn thấy các góc xung quanh bằng cách đọc bóng của người mua hàng. Chỉ có những không gian công cộng nhỏ mới không bị theo dõi. Chính quyền Trung Quốc có thể thu thập cảnh quay từ các thiết bị do Trung Quốc sản xuất. Họ có thể khai thác các camera gắn trên ô-tô dùng chung hoặc các phương tiện tự lái sắp thay thế chúng: Các phương tiện tự động sẽ được bao phủ bởi một loạt cảm biến, bao gồm một số cảm biến sẽ thu nhận thông tin phong phú hơn nhiều so với video 2-D. Dữ liệu từ một tập hợp khổng lồ các cảm biến có thể được kết hợp với nhau và được bổ sung bởi các luồng City Brain khác, để tạo ra mô hình 3-D của thành phố được cập nhật từng giây. Mỗi lần cập nhật có thể ghi lại vị trí của tất cả mọi người trong mô hình. Một hệ thống như vậy sẽ ưu tiên các khuôn mặt không xác định, có lẽ bằng cách gửi các nhóm máy bay không người lái đến vị trí của khuôn mặt không xác định đó để đảm bảo thu thập đầy đủ dữ liệu. Dữ liệu của mô hình có thể được đồng bộ hóa theo thời gian với âm thanh từ bất kỳ thiết bị nối mạng nào có micrô, bao gồm loa thông minh, đồng hồ thông minh và các thiết bị Internet Vạn vật ít rõ ràng hơn như nệm thông minh, tã thông minh và đồ chơi tình dục thông minh. Tất cả các nguồn này có thể kết hợp thành một hỗn hợp âm thanh đa kênh, theo vị trí cụ thể có thể được phân tích cú pháp bằng các thuật toán đa âm thanh có khả năng diễn giải các từ được nói bằng hàng nghìn thứ tiếng. Sự kết hợp này sẽ hữu ích cho các nghiệp vụ an ninh, đặc biệt là ở những nơi không có camera: iFlytek của Trung Quốc đang hoàn thiện một công nghệ có thể nhận dạng các cá nhân bằng “giọng nói” của họ. Trong những thập kỷ tới, City Brain hoặc các hệ thống kế nhiệm của nó thậm chí có thể đọc được những suy nghĩ không thành lời. Máy bay không người lái đã có thể được điều khiển bởi mũ bảo hiểm có khả năng cảm nhận và truyền tín hiệu thần kinh, và các nhà nghiên cứu hiện đang thiết kế giao diện não-máy tính vượt xa tính năng tự động điền, cho phép bạn nhập dữ liệu chỉ bằng cách suy nghĩ. Một nhà nước độc tài có đủ quyền lực xử lý có thể buộc các nhà sản xuất phần mềm đó phải cung cấp mọi hoạt động thần kinh của người dân vào cơ sở dữ liệu của chính phủ. Trung Quốc gần đây đã thúc đẩy người dân tải xuống và sử dụng một ứng dụng tuyên truyền. Chính quyền có thể sử dụng phần mềm theo dõi cảm xúc để theo dõi phản ứng với một kích thích chính trị trong một ứng dụng. Phản hồi bằng cách im lặng hoặc mang tính kiềm chế đối với đoạn văn bản hoặc đoạn clip từ bài phát biểu của Tập sẽ là một điểm dữ liệu có ý nghĩa đối với thuật toán được dùng để đưa ra dự báo. Tất cả các nguồn cấp dữ liệu trên mặt đất được đồng bộ hóa theo thời gian này có thể được bổ sung bằng cảnh quay từ máy bay không người lái, có camera có khả năng chụp những bức ảnh với hàng tỷ điểm ảnh để có thể ghi lại toàn bộ cảnh quan thành phố ở dạng chi tiết và trong suốt như pha-lê, có thể cho phép đọc biển số xe và nhận dạng dáng đi. Các máy bay không người lái, “chim gián điệp”, đã sà xuống và bay vòng quanh các thành phố của Trung Quốc, ngụy trang thành chim bồ câu. Nguồn cấp dữ liệu của City Brain có thể được tổng hợp với dữ liệu từ các hệ thống ở các khu vực đô thị khác, để tạo thành một ghi chép đa chiều theo thời gian thực về gần như tất cả hoạt động của con người ở Trung Quốc. Các trang trại máy chủ trên khắp Trung Quốc sẽ sớm có thể lưu giữ nhiều góc độ trong bộ phim có độ phân giải cao về mọi khoảnh khắc trong cuộc sống của mỗi người Trung Quốc. Điều quan trọng cần nhấn mạnh là các hệ thống thuộc phạm vi này vẫn đang được phát triển. Hầu hết dữ liệu cá nhân của Trung Quốc vẫn chưa được tích hợp với nhau, ngay cả trong các công ty riêng lẻ. Chính quyền Trung Quốc cũng không có một kho dữ liệu tổng hợp, một phần là do sự xung đột giữa giữa các cơ quan trong chính quyền. Nhưng không có rào cản chính trị cứng rắn nào đối với việc tích hợp tất cả các dữ liệu này, đặc biệt là đối với việc sử dụng cho an ninh của nhà nước. Ngược lại, theo quy chế chính thức, các công ty tư nhân buộc phải hỗ trợ các nghiệp vụ tình báo của Trung Quốc. Chính phủ có thể sớm có một hồ sơ dữ liệu phong phú, tự động thu thập cho toàn bộ gần 1,4 tỷ công dân của mình. Mỗi hồ sơ sẽ bao gồm hàng triệu điểm dữ liệu, bao gồm mọi lần xuất hiện của người đó trong không gian được khảo sát, cũng như tất cả các giao tiếp và mua hàng của họ. Nguy cơ đe dọa của họ đối với quyền lực của ĐCSTQ có thể được cập nhật liên tục theo thời gian thực, với điểm số chi tiết hơn so với điểm được sử dụng trong các kế hoạch chấm điểm “tín nhiệm xã hội” mang tính thí điểm của Trung Quốc, vốn đã nhằm mang lại cho mọi công dân điểm uy tín xã hội công cộng dựa trên những thứ như các kết nối với những nền tảng truyền thông xã hội và thói quen mua hàng. Các thuật toán có thể theo dõi điểm số dữ liệu kỹ thuật số của họ, cùng với những người khác, liên tục, mà không bao giờ có cảm giác mệt mỏi của các sĩ quan mật vụ của phát-xít Đức mỗi khi phải làm việc tăng ca. Những hành động tích cực giả - coi ai đó là mối đe dọa cho hành vi vô thưởng vô phạt - sẽ được khuyến khích, để tăng hiệu ứng tích hợp sẵn của hệ thống, để họ hướng con mắt sắc bén về hành vi của chính mình, để tránh sự bất đồng quan điểm dù là nhỏ nhất.   ROSS ANDERSEN là Phó Tổng Biên tập của The Atlantic. Bài báo này sẽ xuất hiện trong ấn bản in vào tháng 9 năm 2020 với tiêu đề “Khi Trung Quốc nhìn thấy tất cả”. (Nguồn: China’s Artificial Intelligence Surveillance State Goes Global - The Atlantic [])                           
  •  PHI-THẾ GIỚI: CÁC NHẬN THỨC CỦA TRUNG QUỐC VỀ TRẬT TỰ QUỐC TẾ PHƯƠNG TÂY
    13/ 03/ 2023
     PHI-THẾ GIỚI: CÁC NHẬN THỨC CỦA TRUNG QUỐC VỀ TRẬT TỰ QUỐC TẾ PHƯƠNG TÂY Matti Puranen Nguyễn Trung Kiên lược dịch         “Trật tự quốc tế tự do” và các ý tưởng cốt lõi của nó, như dân chủ, nhân quyền hay thương mại tự do, đã gặp phải một số thách thức ngày càng tăng trong thập kỷ qua; tuy nhiên, lại thiếu sự thách thức dành cho các mô hình về trật tự. Trong Chiến tranh Lạnh - đặc biệt là trong những thập kỷ đầu tiên sau Chiến tranh thế giới thứ Hai - sự phát triển nhanh chóng của các nền kinh tế cộng sản và lợi thế hàng đầu của họ trong công nghệ vũ trụ dường như đã chứng minh rằng học thuyết Mác-xít – Lêninít đã thực sự cung cấp ý thức hệ và mô hình phát triển mang tính thay thế cho toàn bộ nhân loại Sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, các cường quốc đã không thể đề xuất bất kỳ giải pháp thay thế khả thi nào cho trật tự chính trị hiện tại, vốn đang được cấu thành bởi các nhà nước-dân tộc với nền kinh tế thị trường và các chính thể ít nhiều dân chủ. Tuy nhiên, Trung Quốc dường như đang cố gắng xây dựng một tầm nhìn thay thế. Tại Trung Quốc, sự suy giảm trật tự quốc tế do các nước phương Tây lãnh đạo, cùng với sự trỗi dậy của Trung Quốc để vươn lên vị trí truyền thống là “quốc gia trung tâm” hàng đầu, đang được coi là dòng chảy lịch sử gần như không thể tránh khỏi. Dàn lãnh đạo ngày càng tự tin của Trung Quốc xoay quanh Chủ tịch Tập Cận Bình đang lập luận rằng, thực sự, có một ‘con đường Trung Quốc’ độc nhất có thể đưa ra các giá trị và thể chế truyền thống của Trung Quốc như là giải pháp cho các vấn đề toàn cầu chung của chúng ta, và được trình bày chính xác như là một giải pháp thay thế cho ‘các tư tưởng phương Tây’ như dân chủ tự do hoặc kinh tế thị trường. Nghiêm Học Thông, có lẽ là học giả nổi tiếng nhất về chính trị quốc tế của Trung Quốc, đã lập luận tương tự rằng, vì Trung Quốc thật sự là một trong các cường quốc đang trỗi dậy, nên nó cũng sẽ là suối nguồn tiềm năng nhất cho một hệ tư tưởng toàn cầu mới, trong dài hạn, để thay thế chủ nghĩa tự do . Việc tìm kiếm một “con đường Trung Quốc” cũng có thể được tìm thấy trong giới học thuật Trung Quốc về chính trị học quốc tế. Các học giả Trung Quốc đang ngày càng lập luận rằng chính trị học quốc tế không nên được nghiên cứu chỉ dựa vào các lý thuyết phương Tây về quan hệ quốc tế, như chủ nghĩa hiện thực hay chủ nghĩa tự do, vì chúng chỉ dựa trên kinh nghiệm lịch sử của phương Tây và do đó chỉ dựa trên quan niệm hẹp của ‘phương Tây’ về chính trị quốc tế, và, quan trọng hơn, về những gì mà nền chính trị quốc tế có thể trở thành trong tương lai. Thay vào đó, các khái niệm và triết lý chính trị cổ đại của Trung Quốc, như Khổng giáo hay Pháp gia, đang được nghiên cứu lại. Chúng được coi như là từng cung cấp những sự khôn ngoan chính trị vốn đang bị lãng quên tạm thời, vì vậy nên được khai thác ngay bây giờ, khi cả Trung Quốc và thế giới đang bước vào kỷ nguyên đầy thách thức của cạnh tranh đa cực và các mối đe dọa toàn cầu đang trỗi dậy. Những ý tưởng và lý thuyết mới này không chỉ là mối quan tâm triết học. Trong môi trường học thuật được kiểm soát chặt chẽ của Trung Quốc, chúng có thể được coi là một sự mở rộng của các diễn ngôn chính trị chính thức, do Đảng Cộng sản Trung Quốc kiểm soát. Đảng kiểm soát các định hướng lớn của giới hàn lâm, nhưng các ý tưởng đang chi phối này chảy ngược lên để tác động đến sự lãnh đạo chính trị trong mối quan hệ hai chiều. Do đó, như đã được Trương Phong của Đại học Quốc gia Úc nói rõ, giới trí thức của Trung Quốc “có ảnh hưởng lớn hơn so với giới trí thức ở nhiều nước phương Tây, một cách nghịch lý, bởi hệ thống chính trị đàn áp của Trung Quốc biến cuộc tranh luận về của giới trí thức thành một hình thái chính trị thay thế”. Một trong những thành quả có ảnh hưởng nhất của sự phục hưng tư tưởng truyền thống Trung Quốc này là “lý thuyết ‘thiên hạ’ ”. Lý thuyết ‘thiên hạ’ cố gắng sử dụng một khái niệm chính trị / triết học cổ xưa của Trung Quốc về ‘thiên hạ’ ( 天下) để tạo ra một tầm nhìn quốc tế cho toàn thế giới. Đồng thời, lý thuyết ‘thiên hạ’ được sử dụng để chỉ trích trật tự quốc tế đang thịnh hành và khuôn khổ thể chế cũng như ‘tư tưởng chính trị phương Tây’ đằng sau nó, cả hai đều được coi là không thể giải quyết các vấn đề của thế giới toàn cầu hóa. Do đó, từ các cuộc thảo luận và tranh luận xung quanh lý thuyết ‘thiên hạ’, xuất hiện một câu chuyện thú vị về “phương Tây”, vừa là một nền văn minh lịch sử vừa là một tác nhân chính trong nền chính trị thế giới. Thay vì đứng trên đỉnh cao của tính hiện đại, câu chuyện do Trung Quốc kể đã mô tả phương Tây trong thế bị Trung Quốc tấn công, tự cho mình là trung tâm, và không thể hiểu chính trị quốc tế từ ‘quan điểm thế giới’. Chương sách này tập trung vào các câu chuyện kể của Trung Quốc về phương Tây trong nền chính trị thế giới được phát triển bởi các học giả về chính trị quốc tế Trung Quốc. Dữ liệu nghiên cứu bao gồm các chuyên khảo cũng như các bài báo hàng đầu trên các tạp chí Trung Quốc, như tạp chí “Kinh tế và Chính trị Thế giới” (世界经济与政治) – những công trình sẽ thảo luận và phát triển lý thuyết ‘thiên hạ’ và các khái niệm cốt lõi của nó. TÌM KIẾM MỘT QUAN ĐIỂM VỀ THẾ GIỚI CỦA TRUNG QUỐC Sau khi ‘nhà cầm lái vĩ đại’ Mao Trạch Đông qua đời năm 1976, Trung Quốc bắt tay vào một dự án ‘cải cách và mở cửa’, trong đó xã hội Mao-ít bị tan rã thành từng mảnh. Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đã được tư nhân hóa và trật tự xã hội dựa trên nền tảng giai cấp và chiến tranh giai cấp đã bị giải thể. Các công ty nước ngoài một lần nữa đã được cho phép và thậm chí được mời đầu tư vào Trung Quốc. Một sự điều chỉnh tương tự đã diễn ra trong không gian ý thức hệ của Trung Quốc. Khi các cuộc cải cách kinh tế bắt đầu, Trung Quốc cũng bắt đầu cải cách hệ tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản Mao-ít. Phép tu từ ‘đấu tranh giai cấp’ đã được bỏ đi trong bản Hiến pháp mới năm 1982, và các yếu tố xã hội chủ nghĩa còn bị suy yếu hơn nữa trong các sửa đổi hiến pháp sau này. Trong những năm 1990, chủ nghĩa cộng sản với tư cách là một ý thức hệ chỉ đạo của Trung Quốc đã trở nên gần như một cái vỏ rỗng. Các khái niệm như ‘kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa’ hay ‘chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc’ đã và vẫn đang bị vứt bỏ, và ý nghĩa của chúng ngày càng trở nên mơ hồ tại một đất nước Trung Quốc mới của những tòa nhà chọc trời lấp lánh và những doanh nhân bận rộn, chạy quanh với những cốc cà phê Starbucks trên tay. Trong những năm 1949-1978, chủ nghĩa Mao là học thuyết thiêng liêng đưa ra câu trả lời cho hầu hết mọi câu hỏi mà người ta có thể hỏi. Nó đưa ra một bản sắc rõ ràng về người Trung Quốc là ai (người mang sứ mệnh tiên phong trong cuộc cách mạng cộng sản thế giới), họ đã chống lại ai (các nhà tư bản, những kẻ theo chủ nghĩa xét lại, những kẻ thù giai cấp), và nơi mà đất nước của họ đang hướng tới (hướng tới điều không tưởng của chủ nghĩa cộng sản). Quan trọng hơn, ‘chủ nghĩa Mao khoa học’ cũng mang lại sự chính danh hóa mạnh mẽ cho đảng Cộng sản đang cầm quyền và các chính sách cấp tiến của nó. Trong thời kỳ cải cách, ý thức hệ cộng sản đã không thể trả lời các câu hỏi về bản sắc, và cũng không thể cung cấp cho đảng nhiều tính chính danh. Sự chính danh hóa xuất phát từ thực tế là nền kinh tế Trung Quốc đã phát triển một cách đáng kinh ngạc, nhưng không khó để thấy rằng sự phát triển này là do các cải cách dựa trên nền kinh tế thị trường thực dụng chứ không phải dựa trên bất kỳ nguyên tắc xã hội chủ nghĩa nào. Từ quan điểm của thế giới nói chung, tình hình cũng tương tự. Trong thời kỳ cao trào của chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc, danh hiệu của chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc đã truyền cảm hứng cho những người cánh tả cực đoan ở khắp mọi nơi. Sau các cuộc cải cách, Trung Quốc đã không thể đưa ra một tầm nhìn thay thế đáng tin cậy cho thế giới, mặc dù công bằng mà nói, họ cũng không cố gắng thực hiện điều đó. Trong chính sách đối ngoại ‘náu mình chờ thời’ của Trung Quốc sau cải cách, sự không can thiệp và tôn trọng chủ quyền nhà nước là những nguyên tắc rất mạnh mẽ. Tất cả điều này đã thay đổi. Dần dần, ý thức hệ cộng sản đã được thay thế bằng một loại chủ nghĩa dân tộc duy văn hóa, trong đó các tư tưởng, hệ tư tưởng và triết học truyền thống của Trung Quốc đã được phát huy. Từ những năm 1980, chính phủ trung ương đã tài trợ cho các nghiên cứu về Nho giáo bằng cách thành lập các viện nghiên cứu và cung cấp nguồn tài chính cho các dự án nghiên cứu tập trung vào Nho giáo và các triết lý truyền thống khác. Hơn nữa, trong thời đại của Hồ Cẩm Đào và Tập Cận Bình, ngay cả chính lãnh đạo quốc gia cũng ngày càng sử dụng các khái niệm truyền thống như ‘hòa hợp’ hay ‘nhân loại’, đến mức Valerie Niquet đã phát minh ra một nhãn hiệu cho các bài hùng biện mới này của đảng: ‘các cuộc nói chuyện đầy màu sắc Khổng giáo’ [confu-talk]. Tập Cận Bình cũng thường nhấn mạnh đến khái niệm ‘tự tin về văn hóa’ ( 文化自信 [văn hóa tự tín]), vốn tuyên bố rằng thay vì dựa vào ‘tư duy phương Tây’ hay ‘các giá trị phương Tây’, Trung Quốc có truyền thống văn hóa-trí tuệ lâu đời và lừng lẫy mà nó có thể dựa vào. Mối quan tâm ngày càng tăng đối với văn hóa truyền thống này thường được gọi là ‘cơn sốt học tập truyền thống’ (国学热 [quốc học nhiệt]). Nó hy vọng sẽ khám phá ra một bản sắc mới, một thế giới quan mới và một tính chính danh mới cho một Trung Quốc hậu công sản từ quá khứ đế quốc của nó. Trong giới học thuật về chính trị quốc tế, các học giả đang nghiên cứu các tác phẩm kinh điển để tạo ra một ‘lý thuyết quan hệ quốc tế của Trung Quốc’, sử dụng lịch sử và triết học Trung Quốc làm nguyên liệu trong nỗ lực phát triển một khuôn khổ lý thuyết và quy phạm mang tính thay thế để diễn giải và hướng dẫn chính trị quốc tế. Hiểu biết lý thuyết về chính trị quốc tế ở Trung Quốc đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng học thuật của Hoa Kỳ. Khi Trung Quốc mở cửa, và khi các mạng lưới ngoại giao của họ bắt đầu lan rộng ra thế giới vào thập niên 1980, đất nước này phải đối mặt với nhu cầu về kiến thức và chuyên môn ngày càng tăng về quan hệ đối ngoại và chính trị quốc tế nói chung. Lĩnh vực quan hệ quốc tế của Trung Quốc, nếu thậm chí có một lĩnh vực như vậy, đã bị bào mòn trong những năm tháng thời Mao-ít, nhưng với sự giúp đỡ của các quỹ Ford, Rockefeller và Fulbright cùng các quỹ khác, thế hệ các học giả quốc tế đầu tiên về Trung Quốc lại chủ yếu nghiên cứu tại Hoa Kỳ. Do đó, Trung Quốc về cơ bản đã hấp thụ các lý thuyết về quan hệ quốc tế của Hoa Kỳ, với các lý thuyết dòng chính (chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa kiến tạo) và thậm chí là cái tên của nó (国际关系 [quốc tế quan hệ]). Sự quan tâm trong việc tạo ra một lý thuyết chính trị quốc tế của Trung Quốc bắt nguồn từ nền tảng này. Theo Tần Á Khanh, Giám đốc Đại học Ngoại giao Trung Quốc đầy uy tín, Trung Quốc không thể dựa vào truyền thống chính trị học quốc tế của Hoa Kỳ hay châu Âu, vì các vấn đề cốt lõi của họ phát sinh từ các nền tảng địa lý, lịch sử và xã hội khác với Trung Quốc. Do đó, theo ông Tần, việc tạo ra một lý thuyết chính trị quốc tế của Trung Quốc không phải chỉ có thể mà còn là bắt buộc. Đồng quan điểm này, ông Triệu Đình Dương, một trong những nhà phát triển lý thuyết ‘thiên hạ’ đáng chú ý nhất, đã kêu gọi ‘tư duy lại về Trung Quốc’ (重思中国 [trùng tư Trung Quốc]) , với hàm ý là Trung Quốc sẽ tái tạo một hệ thống triết học hoàn toàn là của mình để sử dụng. CÁC KHÁI NIỆM VÀ TƯ TƯỞNG TRUNG QUỐC ĐỂ THAY THẾ ‘PHƯƠNG TÂY’ Sự phát triển của tiến trình lý thuyết hóa này đã tập trung vào ba dòng hoặc trường phái tư tưởng: đầu tiên là ‘trường phái Thanh Hoa’ của Nghiêm Học Thông về quan hệ quốc tế và học thuyết về ‘chủ nghĩa hiện thực đạo đức’; thứ hai, Tần Á Khanh và ‘lý thuyết liên thuộc trong quan hệ chính trị quốc tế’ của ông; và thứ ba, lý thuyết ‘thiên hạ’. Cả ba trường phái này đều áp dụng các khái niệm truyền thống của Trung Quốc như là vật liệu thô để xây dựng lý thuyết, và do đó, có nhiều ý tưởng chồng chéo giữa chúng. Ví dụ, tất cả các trường phái thường nhấn mạnh đến đạo đức và ‘sự lãnh đạo nhân đạo’ như là nguyên tắc chỉ đạo trong chính trị quốc tế, và quan tâm đến tình trạng quan hệ của các đơn vị chính trị trong các hệ thống lớn hơn. Tất cả các trường phái cũng coi đó là mục tiêu cốt lõi của chúng để đưa ra một số hướng dẫn quy phạm về cách ổn định trật tự quốc tế và về cách kết hợp với Trung Quốc một cách hòa bình vào hệ thống đó. Chức năng kép này mang di sản của tư tưởng Mác-xít, trong đó lý thuyết (理论 [lý luận]) chủ yếu được xem là “hành động chính trị mang tính hướng dẫn”, thay vì chỉ đơn giản là phân tích hoặc giải thích các sự kiện. Do đó, một cách tương tự, lý thuyết quốc tế của Trung Quốc cũng vì thế mà đóng vai trò là kim chỉ nam cho chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Tuyên bố cốt lõi của lý thuyết ‘thiên hạ’ đang phát triển mạnh ngày nay là, trong phần lớn lịch sử của mình, Trung Quốc là trung tâm của một trật tự quốc tế Đông Á độc đáo, hệ thống ‘thiên hạ’. ‘Thiên hạ’ được phân cấp chặt chẽ và được tổ chức tập trung, nhưng nó cũng là một hệ thống ‘hài hòa’ và lỏng lẻo, cho phép sự đa dạng văn hóa trong không gian của nó. Đó là một phương pháp thay thế để tổ chức các mối quan hệ quốc tế trước khi các cường quốc phương Tây áp đặt trật tự kiểu Westphalian của họ trên toàn thế giới [mỗi nhà nước đều có toàn quyền trên vùng lãnh thổ của nó (ND)]. Theo các nhà lý thuyết ‘thiên hạ’, nghiên cứu các nguyên tắc và thể chế của trật tự cổ xưa này có thể mang lại nhiều hiểu biết sâu sắc cho việc cải cách trật tự quốc tế tự do đang gặp khó khăn hiện nay. Cho dù một hệ thống hài hòa như vậy đã từng thực sự tồn tại hay chưa vẫn còn đang được tranh luận, nhưng hầu hết các nhà sử học đều đồng ý rằng các nhà cai trị Trung Quốc đã tổ chức một thế giới quan ‘thiên hạ’ khá mạch lạc và không thay đổi. Kể từ những triều đại đầu tiên (triều đại nhà Chu, 1046-256 TCN), giới tinh hoa chính trị Trung Quốc đã coi đó là sự cai trị toàn thế giới, “tất cả thiên hạ”, theo các nguyên tắc của Khổng giáo về sự cai trị nhân từ mang tính phân cấp. Trong vũ trụ quan này, hoàng đế được cho là ‘thiên tử’ (天子), và chính Trời được cho là một vị thần hoặc một thế lực vũ trụ siêu việt. Trời đã trao cho con trai ông, vị hoàng đế, một nhiệm vụ cho cai trị các vùng lãnh thổ trên mặt đắt - chỉ miễn là vị hoàng đế này thuận theo ý muốn của Trời. Trong vũ trụ quan này, không có “các nhà nước có chủ quyền”, vì mọi người dưới Trời đều nằm dưới quyền lực của hoàng đế. Các vương quốc nhỏ hơn hoặc các đơn vị chính trị khác mọi lúc mọi nơi sẽ cần phải chứng minh sự phục tùng của họ bằng cách gửi các sứ giả triều cống đến thủ đô của Trung Quốc. Tuy nhiên, vị thiên tử không thể hành động độc tài, bởi vì “tất cả ở dưới trời” sẽ chỉ được bình an và thịnh vượng khi ông tuân theo các quy tắc của quyền sở hữu (礼) và hành động đúng đắn. Loại vương quốc lấy dân tộc mình làm trung tâm mang tính phổ quát này tất nhiên không phải là duy nhất đối với Trung Quốc. Bằng các ví dụ khác, người ta có thể đề cập đến sự khác biệt nổi tiếng giữa người Hy Lạp và ‘dân man rợ’, và ý tưởng Hoa Kỳ là “một thành phố sáng chói trên các ngọn đồi” giữa các quốc gia khác. Benjamin Schwartz đã lập luận rằng điều độc đáo trong trường hợp của nền văn minh Trung Quốc là trong phần lớn lịch sử, Trung Quốc gần như bị cô lập hoàn toàn với phần còn lại của thế giới bởi các rào cản tự nhiên. Không giống như các vương quốc phổ quát ở nơi khác, đế chế Trung Quốc không bao giờ gặp phải bất kỳ đối thủ tiên tiến về văn hóa nào có thể phủ nhận vũ trụ quan ‘lấy Trung Hoa làm trung tâm’ của nó. Trái lại, việc các nước láng giềng chính của Trung Quốc - Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam - đã áp dụng hệ thống tư tưởng Nho giáo của Trung Quốc, cũng như nhiều yếu tố văn hóa khác, dường như đã chứng minh điều đó. Các bộ lạc du mục vùng Tây Bắc, mặc dù có thể đột kích các khu vực biên giới của Trung Quốc và thực hiện một số tàn phá nghiêm trọng, những vẫn bị coi chỉ là những kẻ man rợ. Họ cũng cuối cùng sẽ được khai hóa văn minh bởi uy quyền tối cao về đạo đức và văn hóa của Trung Hoa - vương quốc trung tâm. Vũ trụ quan ‘thiên hạ’ này đã thống trị thế giới quan và triết học của đế chế Trung Quốc cho đến thế kỷ XIX, khi các cường quốc phương Tây đến cùng với các pháo hạm tiên tiến về công nghệ, và buộc nó phải sụp đổ. Vũ trụ quan chính trị phương Tây khác đáng kể với vũ trụ quan ‘thiên hạ’. Nó dựa trên một ý tưởng về các quốc gia bình đẳng và có chủ quyền sẽ tương tác trong trật tự quốc tế theo các luật và thể chế phổ quát nhất định. Cạnh tranh, ngoại giao, thương mại và chiến tranh là tất cả các hợp phần không thể thiếu của trật tự quốc tế này, thường được cho là đã được chính thức hóa trong Hiệp ước Westfalen năm 1648. Suốt thế kỷ XIX, Trung Quốc dần biết rằng thế giới quan coi mình là trung tâm của ảo ảnh ‘tất cả dưới Trời’ là một ảo tưởng. Triều đại cuối cùng, nhà Thanh (1644-1911), đã giao động khi nó cố gắng tự định hướng trong điều kiện chính trị thay đổi nhanh chóng. Nó đã cố gắng áp dụng một số yếu tố của sức mạnh phương Tây (như công nghệ quân sự) để chống lại những kẻ xâm nhập, nhưng đồng thời nó đã cố gắng giữ vững các tư tưởng và vũ trụ quan của Khổng giáo. Nó không thể có cả hai. Đế chế Trung Quốc và hệ thống ‘thiên hạ’ xung quanh nó cuối cùng đã sụp đổ trong cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911, sau đó Cộng hòa Trung Hoa dân quốc được thành lập. Trong những năm đau đớn này, Trung Quốc buộc phải thừa nhận rằng thay vì là tất cả ‘mọi thứ dưới trời’, nó chỉ đơn giản là một quốc gia (国) trong một hệ thống các quốc gia lớn hơn (万国, [vạn quốc]). Khái niệm ‘thiên hạ’ sau đó đã được thay thế bằng khái niệm ‘thế giới’ (世界) của phương Tây. Cùng lúc đó, nhiều khái niệm mới khác, chẳng hạn như dân tộc (民族), người Trung Quốc (中国人), hoặc nhân dân (人民), phải được nhập khẩu vào ngôn ngữ Trung Quốc, khi mà trong sự hình thành khái niệm về thế giới của lý thuyết ‘thiên hạ’ đều không có chỗ cho những tư tưởng như vậy. SỰ TRỞ LẠI CỦA ‘THIÊN HẠ’ Trong suốt thế kỷ XX, Trung Quốc đã trở thành một quốc gia và vào cuối thế kỷ này, cuối cùng nó đã ổn định về chính trị và kinh tế. Bây giờ, khi việc tìm kiếm bản sắc hậu cộng sản của Trung Quốc đang được tăng cường, khái niệm ‘thiên hạ’ từng bị lãng quên nay đã được hồi sinh. Các nhà sử học, triết gia chính trị và học giả về chính trị quốc tế đang nghiên cứu khái niệm và tiềm năng của khái niệm này đối với tư duy về quốc tế của Trung Quốc. Lý thuyết ‘thiên hạ’ ở dạng hiện đại lần đầu tiên được đề xuất bởi một nhà kinh tế tự do Thành Hồng, trong một bài viết ngắn nhưng đầy ảnh hưởng vào năm 1996, “Từ chủ nghĩa dân tộc đến chủ nghĩa ‘thiên hạ’”. Ý tưởng đã được đưa vào dòng tư tưởng chính bởi Triệu Đình Dương, một nhà triết học của Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, với cuốn sách của mình, Tianxia System [Hệ thống thiên hạ], xuất bản năm 2005. Sau khi cuốn sách của Triệu được xuất bản, một cuộc thảo luận sôi nổi về tiềm năng của khái niệm này đã xuất hiện và vẫn đang tiếp diễn. Mặc dù không bao giờ trở thành một mô hình lý thuyết hàng đầu, Triệu và Thành đã đưa ra ý tưởng về một thế giới quan độc đáo ‘trong chương trình nghị sự’, và nền học thuật Trung Quốc đã giải thích và phân tích tư duy chính sách đối ngoại của Trung Quốc bằng cách áp dụng tư tưởng của họ. Hơn nữa, ngay cả chính phủ Trung Quốc cũng ngày càng đưa các khái niệm từ lý thuyết ‘thiên hạ’ vào các diễn ngôn mang tính tu từ trong chính sách đối ngoại của mình: chẳng hạn, Tập Cận Bình đã tuyên bố trong bài phát biểu trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc vào tháng 9 năm 2015 rằng chính sách đối ngoại của Trung Quốc nhằm tạo ra ‘một thế giới thực sự chia sẻ bởi tất cả mọi người’ (天下为公 [thiên hạ vi công]). Điều đã giúp thống nhất các nhà lý thuyết ‘thiên hạ’ chính là niềm tin rằng trật tự ‘thiên hạ’ mang tính ‘phân cấp’ của Trung Quốc ổn định và hòa bình hơn so với trật tự ‘vô chính phủ’ của phương Tây. Nó cũng bao gồm nhiều lý tưởng đạo đức có giá trị mà thế giới toàn cầu hóa có lẽ có thể thấy hữu ích. Một trong những tuyên bố chính về ‘thiên hạ’ là nó ‘không có bên ngoài’ (无外 [vô ngoại]). Bởi nó bao phủ tất cả dưới Trời, không thể tồn tại bất kỳ biên giới bên ngoài nào, và do đó mọi nền văn hóa, bộ lạc hoặc vương quốc đều được chấp nhận trong đó. Kể cả nếu có các nền văn hóa xa lạ và man rợ sống xa trung tâm, họ cung bị không được xem là bên ngoài của ‘thiên hạ’, mà chỉ đơn thuần là quá xa ảnh hưởng văn minh của nó. Với tư tưởng ‘thiên hạ’, tranh luận đã diễn ra, hài hòa và cởi mở với sự khác biệt, vì nhiều tôn giáo và hệ thống tư tưởng khác nhau (ví dụ Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo và Hồi giáo) cùng tồn tại trong hòa bình. Không có “người khác” trong ‘thiên hạ’, và cũng không cần phải cải biến người khác theo văn hóa của mình. Một phép ẩn dụ chung khác mà các nhà lý thuyết đề xuất là ‘thiên hạ’ sẽ giống như một gia đình lớn (天下一家 [thiên hạ nhất gia]). Thay vì các quốc gia cạnh tranh khốc liệt như ở ‘phương Tây’, ‘thiên hạ’ được tưởng tượng là một gia đình lớn, với hoàng đế Trung Quốc là vị vua đáng kính và chính nghĩa, và các quốc gia nhỏ hơn, các vương quốc và các bộ lạc là những con hiếu thảo của họ. Một nhà nước con sẽ cần phải tôn trọng nhà nước cha, đổi lại, nó sẽ nhận được các lợi ích về an ninh, sự công nhận và các lợi ích kinh tế. Do đó, hệ thống phân cấp trong ‘thiên hạ’ không thể so sánh với “quyền bá chủ” như được hiểu trong truyền thống tư tưởng quốc tế của phương Tây. Các nhà lý luận này lập luận rằng, thay vì quyền lực tối cao của quân đội, một hệ thống ‘thiên hạ’ thực sự chỉ có thể dựa trên sự lãnh đạo gương mẫu về mặt đạo đức trong đó hệ thống phân cấp của hệ thống được chấp nhận và thậm chí được cổ xúy bởi tất cả các thành viên. Theo Triệu: “một mình nắm giữ quyền lực chính trị hoặc lãnh thổ không bằng ‘nắm được thiên hạ’. […] ‘Nắm được thiên hạ’ có nghĩa là có sự chấp thuận của xã hội và đại diện cho sự lựa chọn của dân chúng”. Các nhà lý thuyết ‘thiên hạ’ thấy trật tự quốc tế tự do hiện nay của các quốc gia bình đẳng và có chủ quyền là hỗn loạn và không ổn định. Ngay cả khi trật tự được xác lập ổn định trong một thời đoạn ngắn của lịch sử, thì giờ đây nó đã trở nên lỗi thời khi thế giới toàn cầu hóa và liên kết ngày càng sâu sắc, cùng đối mặt với các vấn đề ngày càng gia tăng, như bất bình đẳng toàn cầu và biến đổi khí hậu, rằng không có quốc gia hay thậm chí là một nhóm các quốc gia có thể tự xử lý. Các nhà lý thuyết cho rằng khái niệm ‘thiên hạ’ giống như một hạt giống triết học, khi được gieo trồng, có thể phát triển thành một khuôn khổ cho một xã hội toàn cầu mang tính thay thế. Thay vì một hoàng đế, ‘thiên hạ’ mới có thể có một loại ‘thể chế thế giới’ nào đó mà sẽ giám sát lợi ích của toàn hành tinh và đóng vai trò trung gian trong các cuộc xung đột chính trị. Lý thuyết ‘thiên hạ’ đã gặp phải sự chỉ trích nặng nề cả trong và ngoài Trung Quốc. Đặc biệt là các nhà sử học, như Cát Triệu Quang, đã lập luận rằng trật tự ‘thiên hạ’ trong lịch sử chỉ là một ảo mộng không tưởng trong kinh điển của các học giả Nho giáo, và logic thông thường của nền chính trị dựa trên quyền lực vĩ đại thống trị ở Trung Quốc cũng giống như ở bất kỳ nơi nào khác. Ở phương Tây, các nhà Trung Hoa học nổi tiếng như William Callahan và June Teufel Dreyer cũng đã đưa ra những nhận xét quan trọng về tính chính xác lịch sử trong các lập luận cơ bản của lý thuyết này. Điều đặc biệt cho các cuộc thảo luận xung quanh lý thuyết ‘thiên hạ’ là trật tự ‘thiên hạ’ trong cổ đại là như thế nào, và cách thức tổ chức ‘thiên hạ’ toàn cầu mới là những vấn đề đang tranh cãi nặng nề. Một số người, chẳng hạn như Triệu Đình Dương, cho rằng hình thức trung thực nhất của ‘thiên hạ’ chỉ có thể được tìm thấy trong hệ thống phong kiến đầy lỏng lẻo trong thời kỳ đầu của triều đại nhà Chu. Nhưng đối với những người khác, như Thành Hồng, ‘thiên hạ’ có nghĩa là đế chế thống nhất của Trung Quốc sau khi thành lập triều đại nhà Hán. Nhiều nhà lý thuyết ‘thiên hạ’ chỉ ra ‘hệ thống phụ lưu’ của các triều đại nhà Minh và nhà Thanh, và thậm chí còn có một phái theo chủ nghĩa tự do trong các nhà lý thuyết về ‘thiên hạ’ (Lưu Thanh, Từ Cát Lâm, Bạch Đồng Đông) cho rằng trật tự ‘thiên hạ’ mới không nên có một thể chế trung ương thống trị. Nhưng ngay cả khi khái niệm về ‘thiên hạ’ còn khá mập mờ và được mô tả mơ hồ, thì tất cả các nhà lý thuyết đều đồng ý rằng ‘thiên hạ’ phải là một cái gì đó khác với ‘phương Tây’. Nó không thể đơn giản là một đế chế như các đế chế lịch sử khác, mà nó phải là một hệ thống chính trị quốc tế độc đáo của Trung Quốc. Tạo một bản sắc cho chính mình luôn cần ‘sự khác biệt, một tấm gương để phản ánh sự độc đáo của chính mình. Trong các cuộc thảo luận xung quanh lý thuyết ‘thiên hạ’, thì khái niệm ‘thiên hạ’, bất kể được định nghĩa như thế nào, luôn được đặt ra để chống lại một nền văn minh phương Tây trong tưởng tượng và hệ thống tư tưởng phương Tây. Hầu hết các nhà lý thuyết dường như đồng ý với nhau về những đặc điểm của phương Tây, và phương Tây như là một khái niệm (西方 [Tây phương]) không thực sự có vấn đề hoặc đáng nghi vấn trong diễn ngôn về ‘thiên hạ’. Về mặt địa lý có vẻ như nó chỉ châu Âu và (hoặc) Hoa Kỳ, nhưng định nghĩa không bao giờ được xây dựng rõ ràng. Một loại bản chất luận tương tự cũng được áp dụng cho nền văn minh Trung Hoa, và những yếu tố được tận dụng. Với thứ chủ nghĩa nhị nguyên này, các nhà lý thuyết về ‘thiên hạ’ đang xây dựng một đại tự sự ‘theo kiểu phương Tây’ về nền văn minh phương Tây. Trong tự sự này, trật tự quốc tế đầy hỗn loạn hiện nay là kết quả của di sản triết học và hệ thống giá trị của phương Tây, vốn thiếu đi một tầm nhìn ‘mang tính thế giới’. Văn minh phương Tây ở đây ở đây được hiểu như một hình ảnh và một sự tường thuật ít nhiều bị bóp méo về ‘phương Tây’ như một thực thể xã hội-văn hóa mang tính cố kết và là một tác nhân chính trong nền chính trị thế giới. Phép tu từ theo kiểu phương Tây cố gắng nén lại và biến thành thiết yếu vô số các nền văn hóa, ngôn ngữ và truyền thống triết học dưới một nhãn hiệu đơn giản là ‘phương Tây’, rất giống với những gì mà thuật hùng biện ‘phương Đông’ đã cố gắng thực hiện với các khu vực rộng lớn và đa dạng của châu Á thành nhãn hiệu ‘phương Đông’. Văn minh phương Tây có thể được các kẻ thù của nó sử dụng để phác họa một hình ảnh vô nhân đạo và tàn bạo của phương Tây, nhưng nó cũng có thể được áp dụng cho các mục đích tích cực và toàn diện: ví dụ, Patrick Thaddeus Jackson đã lập luận về cách mà một nền văn minh lý tưởng hóa của phương Tây đã được tạo tác về mặt tu từ ra sau Chiến tranh thế giới thứ Hai để đưa Đức vào liên minh xuyên Đại Tây Dương nhằm chống lại mối đe dọa ngày càng tăng từ Liên Xô. Hình tượng văn minh phương Tây không phải là một hiện tượng mới trong tư duy của người Trung Quốc. Kể từ khi triều đại nhà Thanh của Trung Quốc xung đột với các cường quốc phương Tây trong thế kỷ XIX, các trí thức Trung Quốc đã buộc phải suy nghĩ lại về vị trí của Trung Quốc trong thế giới rộng lớn hơn. Hình ảnh của phương Tây phải được cập nhật một cách tương tự: thay vì là những con thú lông đỏ được điều khiển bởi bản năng động vật, phương Tây sau đó được tưởng tượng là đại diện cho một nền văn minh khác, thậm chí có thể đứng ngang hàng với Trung Quốc. Trong quá trình Trung Quốc mở cửa ra thế giới, phương Tây với tư cách là một thực thể tập thể đã trở thành một ‘cái khác’ đầy cực đoan và là chuẩn mực để trí thức Trung Quốc phản ánh thành tựu của chính Trung Quốc. Do đó, văn minh phương Tây tại Trung Quốc bao gồm cả khía cạnh lý tưởng hóa và hiện tượng hóa thành kẻ thù, và phương Tây được coi là một mô hình để học theo hoặc là một mối đe dọa để chống lại. Những người theo chủ nghĩa tự do của Trung Quốc đầu thế kỷ XX đã nhìn thấy khía cạnh tiêu cực trong truyền thống Trung Quốc, đồng thời, việc đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa và Tây phương hóa của Trung Quốc là không thể tránh khỏi đối với sự sống còn của Trung Quốc. Những người khác, đại diện cho các quan điểm truyền thống hơn, lập luận rằng mặc dù phương Tây thực sự mạnh mẽ, nhưng nó thiếu chất lượng tinh thần. Do đó, Trung Quốc nên áp dụng các công nghệ phương Tây và đổi mới của chính phủ khi cần thiết, nhưng nó sẽ giữ nguyên ‘chất’ văn hóa và trí tuệ của Trung Quốc (中学为体 西学为用 [Trung học vi thể, Tây học vi dụng]). Đối với nhiều người, đặc biệt là những trí thức chịu ảnh hưởng bởi truyền thống, phương Tây đóng vai trò là một công cụ mà từ đó Trung Quốc có thể phản ánh sự độc đáo của chính họ. Ví dụ, một trong những nhà triết học Nho giáo quan trọng nhất của thế kỷ XX, Lương Thấu Minh (1893-1988), đã dành riêng cho tác phẩm đáng chú ý của mình, Chất văn hóa Trung Quốc ( 国 化要 要) để so sánh các nền văn minh Trung Hoa và phương Tây cùng với những nguồn gốc văn hóa của chúng. Theo lời ông:    * VỀ TÁC GIẢ Matti Puranen là sinh viên tiến sĩ ngành khoa học chính trị tại Đại học Jyväskylä (Phần Lan). Ông nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử quan hệ quốc tế của Trung Quốc, đặc biệt là về tư tưởng và tiến trình lý thuyết hóa về chính trị thế giới của Trung Quốc. * Nguồn: Matti Puranen, "A Non-world: Chinese Perceptions of the Western International Order". In: Marko Lehti, et al (eds.). 'Contestations of Liberal Order: The West in Crisis?' [Những tranh luận về Trật tự tự do: Phương Tây đang khủng hoảng?]. New York, NY: Routledge, 2020.  
  • Hành lang chật hẹp: Các nhà nước, các xã hội và định mệnh của tự do
    10/ 03/ 2023
     ĐIỂM SÁCH “THE NARROW CORRIDOR: STATES, SOCIETIES, AND THE FATE OF LIBERTY” (Daron Acemoglu & James A. Robinson, Penguin Press, 2019) Nguyễn Trung Kiên lược dịch           “THE NARROW CORRIDOR: STATES, SOCIETIES AND THE FATE OF LIBERTY” [Hành lang chật hẹp: Các nhà nước, các xã hội và định mệnh của tự do], của Daron Acemoglu và James A. Robinson, là một trong những cuốn sách mà mọi người sẽ ca ngợi và nhiều người sẽ trích dẫn, nhưng sẽ có ít người đọc – hay ít nhất là đọc hết nó. Sam Hill, Newsweek, 30/8/2019   Tác phẩm này sẽ nhận được rất nhiều lời khen ngợi (trên thực tế, đã có ba nhà kinh tế học đoạt giải Nobel ca ngợi nó), bởi vì đó là một tác phẩm với tham vọng đáng kinh ngạc, nhằm mục đích giải thích tại sao tự do đã tồn tại, hoặc đã không tồn tại, ở mọi thời điểm tại mọi vùng địa lý trên thế giới. Cuốn sách này sẽ được trích dẫn rộng rãi bởi, vì nó đưa ra một sự phê phán gay gắt về chủ nghĩa Trump và chủ nghĩa tư bản hiện thực ở Hoa Kỳ ngày nay, cùng với một cảnh báo nghiêm khắc rằng, "Vâng, chế độ độc tài có thể xuất hiện ở đây." Một số người sẽ thích thú với việc cuốn sách đã hạ bệ chủ nghĩa ưu việt của Hoa Kỳ. Và cuốn sách đủ công bằng để tất cả mọi người với mọi quan điểm chính trị đều thể trích dẫn cuốn sách này cho mục đích cụ thể của họ. Tuy nhiên, [việc đọc hết cuốn sách này] là một thử thách đầy khó khăn, ngay cả đối với những người quan tâm đến chủ đề này và từng yêu thích cuốn sách trước kia của họ, ‘Why Nations Fail’ [Vì sao các quốc gia thất bại]. Tiên đề của tác phẩm ‘Hành lang chật hẹp’ thật đơn giản. Nền dân chủ là tốt nhất trong tất cả các thế giới chính trị, một [mô hình] thúc đẩy sự đổi mới và thịnh vượng. Tuy nhiên, dân chủ không phải là một trạng thái cao hơn mà tất cả các quốc gia rồi sẽ đạt tới khi các nhà lãnh đạo [chính trị] trở nên giác ngộ hơn. Thay vào đó, nó là một kết quả đầy mong manh, dễ tổn thương, và không ổn định. Nền dân chủ đòi hỏi cả một nhà nước mạnh và một xã hội mạnh, và chỉ có thể tồn tại khi cả nhà nước và xã hội trở nên cân bằng một cách hoàn hảo - một trạng thái tạm thời mà ít quốc gia nào từng đạt được, và thậm chí còn ít quốc gia hơn nữa có thể duy trì được. Đi vào hành lang [chật hẹp này] không dễ dàng. Ở lại đó còn khó hơn nữa. Điều kiện chính trị mặc định là tình trạng vô chính phủ và sự hỗn loạn, một tình huống mà hầu hết các xã hội sẽ nỗ lực tối đa để tránh, ngay cả khi điều đó có nghĩa là lựa chọn giữa chế độ chuyên chế (quá nhiều [sự can thiệp của] nhà nước) hoặc chủ nghĩa bộ lạc (quá ít [sự can thiệp].) Đối với một quốc gia, chủ nghĩa chuyên chế sẽ tốt hơn tình trạng vô chính phủ, nhưng sự gia tăng của chủ nghĩa chuyên chế sẽ hạn chế sự thay đổi [theo hướng dân chủ hóa (ND)], bởi nó kìm hãm sự đổi mới và thúc đẩy tham nhũng. (Ví dụ: Chi phí hối lộ lên tới 130.000 đô-la để vào Đại học Nhân dân danh giá của Trung Quốc.) Sức mạnh to lớn mà cuối cùng lại trở điểm yếu lớn của cuốn sách này là [sự rời rạc] trong các phần của nó. Cuốn sách đầy ắp những lối rẽ ngang đầy thú vị và những mẩu quặng vàng rực rỡ. Có một phần hấp dẫn về triển vọng Trung Quốc trên con đường trở thành một cường quốc thế giới, lập luận rằng Trung Quốc sẽ bị sa lầy vì không thể phát triển thành một nền dân chủ. Đất nước này thiếu truyền thống dân chủ, luôn luôn dao động giữa chế độ chuyên quyền cứng rắn ([pháp trị của] Thương Ưởng và chủ nghĩa cộng sản) và chế độ chuyên quyền mềm mại (Nho giáo). Phần tốt nhất là các tác giả đưa ra lập luận bằng cách trích dẫn nhà kinh tế đầu tiên của thế giới, Ibn Khaldun tại Tunis, nổi tiếng vì đã phát minh ra cái mà ngày nay chúng ta gọi là Đường cong Laffer [mô tả mối quan hệ giữa các mức thuế suất có thể với mức thu ngân sách nhà nước được tạo ra từ đó (ND)]. Chính sự uyên bác tuyệt vời này, nhằm liên kết các tư tưởng và sự kiện xuyên qua các không gian địa lý và thời gian lịch sử, khiến cuốn sách này trở nên đặc biệt. Nhưng tất nhiên hầu hết độc giả Hoa Kỳ sẽ quan tâm nhiều hơn đến những gì cuốn sách nói về [Hoa Kỳ] chúng ta. Nhiều người (bao gồm cả tôi) đã đưa ra lập luận rằng các tập đoàn ở Hoa Kỳ cần phải hành động nhiều hơn nữa. Cuốn sách này lập luận rằng một phần của vấn đề là các doanh nghiệp đã làm quá nhiều rồi. Tóm lại, họ tin rằng vì Hiến pháp còn thiếu sót, nên chính phủ liên bang không thể làm nhiều việc mà đáng ra họ nên làm, và có thể làm một cách hiệu quả, như chăm sóc sức khỏe. Kết quả là nó dựa vào quan hệ đối tác công-tư để đảm nhận quá nhiều nhiệm vụ. Nó cũng khiến chính phủ liên bang phải hoạt động quá mức ở những khu vực mà nó đã có (hoặc đơn giản là đã giành lấy) quyền hoạt động, như an ninh nội địa và tiến hành chiến tranh. Một phần đặc biệt thú vị khác được dành cho cách tiếp cận của Hoa Kỳ để điều hành một nền kinh tế, mà các tác giả mô tả là "hãy để thị trường tự vận hành và sử dụng thuế thu nhập lũy tiến để đạt tới sự phân phối đáng mong muốn." Các tác giả cho rằng đây là một sự tách biệt giả tạo của chính trị khỏi kinh tế, và cách thông minh hơn để làm điều đó là tìm hiểu giá cả thị trường để ít phải phân phối lại. Nhưng một trong số những phát hiện xuất sắc nhất của họ là sự trỗi dậy của chủ nghĩa Trump, khi tác giả cho rằng thủ thuật của Trump, lợi dụng một hệ thống chính trị bị bế tắc, với tư cách là người bảo vệ người dân, níu vào giới tinh hoa – những người nghĩ rằng họ có thể đương đầu với các thử thách gay gắt, v.v ... là cùng một thủ thuật được sử dụng bởi các nhà độc tài từ Adolf Hitler ở Đức đến Alberto Fujimori ở Peru. Các tác giả cảnh báo rằng chúng ta không nên tự tin rằng các thể chế của chúng ta sẽ bảo vệ chúng ta. Và các tác giả trích dẫn nhiều ví dụ về các nền dân chủ mà đơn giản là đã sụp đổ, như Cộng hòa Weimar, hoặc tự kết liễu sự tồn tại của mình. Các tác giả đã dựng nên một khung khái niệm mang tính bao quát để định nghĩa lịch sử là sự đánh đổi giữa quyền lực của nhà nước và quyền lực của nhân dân. Mới nghe qua thì có vẻ hấp dẫn, nhưng để làm cho mọi thứ phù hợp [với khung khái niệm này] thì cần tới quá nhiều biệt lệ và sự giải thích. Điều tôi ghi nhận được là các nền dân chủ thành công dường như là một sự kiện ngẫu nhiên được hình thành bởi những lựa chọn khôn ngoan. Điều này có nghĩa là, những người dù đã học được học hỏi từ lịch sử nhưng vẫn có thể lặp lại [các sai lầm của] nó. Các tác giả không đồng ý, "Tuy nhiên, vấn đề lịch sử không có nghĩa rằng lịch sử là định mệnh." Nhưng họ không cung cấp nhiều dẫn chứng. Giống như trong cuốn sách trước của họ [cuốn ‘Vì sao các quốc gia thất bại (ND)], Acemoglu và Robinson tỏ ra rất xuất sắc trong việc mô tả lịch sử, nhưng chưa thật xuất sắc trong việc chỉ ra tiến trình định hình lịch sử. Tôi nhận thấy mình liên tục phải lật đi lật lại các trang để xem lại những điều đã trình bày. Rất nhiều lập luận chỉ khác biệt nhau một chút. Cần phải đọc đi đọc lại để hiểu đầy đủ những gì các tác giả đang trình bày. Và họ không làm cho nó dễ dàng hơn bằng cách sử dụng một khái niệm mượn từ Thomas Hobbes [Leviathan – thủy quái (ND)] và tô điểm bằng những uyển ngữ của riêng họ: Paper Leviathan [Thủy quái trên giấy], Red Queen Effect [Hiệu ứng Nữ hoàng Đỏ], Gilgamesh Problem [vấn đề Gilgamesh], Cage of Norms [Chiếc lồng của các Quy tắc], The Blades of Scissors [các lưỡi của những cây kéo]. Acemoglu và Robinson liệt kê 45 "đồng tác giả" trong Lời cảm ơn. Tôi đoán hệ thống thuật ngữ này là một nỗ lực để gắn kết nhiều bài tiểu luận thành một tổng thể chặt chẽ. Tôi không thấy nó hiệu quả. Sử dụng một hệ thống từ vựng mà chúng ta đã quen thuộc sẽ giúp cuốn sách này dễ hiểu hơn một chút. Có lẽ thật khó khăn khi chỉ trích cuốn sách này vì đã không tuân theo tiêu chuẩn cao một cách thái quá mà nó đặt ra cho chính nó, và thay vào đó chúng ta nên đánh giá cao nó về những gì nó đã thể hiện ra: đây là cuốn sách thông minh và kịp thời về một chủ đề quan trọng. (Nguồn: https://www.newsweek.com/book-review-narrow-corridor-democr…) * CUỘC ĐẤU TRANH VĨNH CỬU CHO TỰ DO Peter Dizike, MIT News Office, 24/9/2019 Cuốn sách mới của Daron Acemoglu, xem xét cuộc chiến giữa nhà nước và xã hội – cuộc chiến mà đôi khi giúp tạo ra tự do dân chủ.   Các nhà nước dân chủ với quyền tự do cá nhân mạnh mẽ đến từ đâu? Trong những năm qua, nhiều lý thuyết lớn đã nhấn mạnh đến một số yếu tố cụ thể, bao gồm văn hóa, khí hậu, địa lý, công nghệ hoặc hoàn cảnh kinh tế xã hội như sự phát triển mạnh mẽ của tầng lớp trung lưu. Daron Acemoglu có một quan điểm khác: Tự do chính trị xuất phát từ đấu tranh xã hội. Chúng ta không có khuôn mẫu phổ quát nào cho tự do - không có điều kiện nhất thiết nào để tự do có thể ra đời, và không có tiến trình lịch sử nào mà có thể chắc chắn dẫn đến tự do. Tự do không được thiết kế và trao truyền bởi giới tinh hoa, và không có gì đảm bảo quyền tự do sẽ vẫn còn nguyên vẹn, ngay cả khi nó được quy định trong luật. Acemoglu, nhà kinh tế và giáo sư tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) nói: ‘Dân chủ thực sự và tự do không bắt nguồn từ cơ chế kiểm soát quyền lực hoặc từ thiết kế thể chế thông minh. Tự do bắt nguồn [và được duy trì] trong quá trình vận động xã hội vốn lộn xộn hơn nhiều, mọi người bảo vệ quyền tự do của mình và chủ động đặt ra các ràng buộc về cách áp dụng các quy tắc và hành vi đối với họ’. Bây giờ, Acemoglu cùng cộng tác viên lâu năm của ông, James A. Robinson, nhà khoa học chính trị tại Đại học Chicago, đã có một cuốn sách mới đưa ra luận điểm này. “Hành lang chật hẹp: Các nhà nước, các xã hội và Định mệnh của tự do”, được Penguin Random House xuất bản trong tuần này, xem xét cách một số nhà nước nổi lên như những ngọn hải đăng của tự do. Mấu chốt của vấn đề, đối với Acemoglu và Robinson, là các nhà nước dân chủ-tự do tồn tại ở giữa những các biến thể của tình trạng vô luật pháp và chủ nghĩa độc tài. Nhà nước là cần thiết để bảo vệ người dân khỏi sự thống trị bởi những người khác trong xã hội, nhưng nhà nước cũng có thể trở thành một công cụ bạo lực và đàn áp. Khi các nhóm xã hội tranh giành quyền lực nhà nước và khai thác quyền lực này để giúp đỡ những công dân bình thường, tự do sẽ được mở rộng. Acemoglu nói: ‘Cuộc xung đột giữa nhà nước và xã hội, nơi nhà nước được đại diện bởi các tổ chức và các nhà lãnh đạo ưu tú, sẽ tạo ra một hành lang hẹp, trong đó tự do phát triển mạnh mẽ. Bạn cần đến sự xung đột này để đạt tới trạng thái cân bằng. Sự mất cân bằng sẽ bất lợi cho tự do. Nếu xã hội quá yếu sẽ dẫn đến chế độ độc tài. Nhưng mặt khác, nếu xã hội quá mạnh sẽ dẫn đến nhà nước yếu mà sẽ không thể bảo vệ các công dân của họ’. TỪ ‘VẤN ĐỀ GILGAMESH’ ĐẾN ‘HÀNH LANG CHẬT HẸP’ Chịu ảnh hưởng bởi nhà lý thuyết chính trị người Anh, John Locke, Acemoglu và Robinson xác định quyền tự do bằng cách lập luận rằng ‘nó [quyền tự do (ND)] phải bắt đầu bằng việc người dân không bị bạo lực, đe dọa và các hành động hạ cấp khác. Người dân phải được tự do lựa chọn cho cuộc sống của họ và phải có phương tiện để thực hiện chúng mà không phải chịu sự trừng phạt vô lý hay các chế tài xã hội hà khắc’. Đây là một mối quan tâm gần như vĩnh cửu, các tác giả lưu ý: Gilgamesh, theo sử thi cổ đại, là một vị vua đã ‘vượt quá mọi giới hạn’ trong xã hội. Nhu cầu phải kiềm chế quyền lực tuyệt đối là điều mà các tác giả gọi là ‘vấn đề Gilgamesh’, một trong nhiều thuật ngữ mới của cuốn sách. Một thuật ngữ khác là ‘chiếc lồng của các chuẩn mực’ - điều kiện mà xã hội, khi không có nhà nước, có thể tự tổ chức để tránh bạo lực trên diện rộng, nhưng chỉ bằng cách thông qua các đồng thuận xã hội hạn chế. Các nhà nước, bằng cách trở thành những người bảo đảm cho tự do, có thể phá vỡ chiếc lồng của các chuẩn mực này. Nhưng các nhóm xã hội phải kiềm chế quyền lực nhà nước trước khi nó kìm hãm tự do thái quá. Khi năng lực nhà nước và xã hội phát triển song song, các tác giả gọi đây là ‘Hiệu ứng Nữ hoàng Đỏ’, ám chỉ một chủng tộc trong tác phẩm ‘Through the Looking Glass’ của Lewis Carroll. ‘Cuộc đua’ này, nếu đủ cân bằng, sẽ xảy ra trong ‘hành lang chật hẹp’, nơi các nhà nước ủng hộ tự do có thể tồn tại. Acemoglu và Robinson khảo sát các trường hợp cải cách chính trị trong thời cổ đại, từ Athens đến nhà nước Zapotec, và họ định vị được nơi khởi nguồn quan trọng nhất của tự do vào đầu thời kỳ Trung cổ. Các bộ lạc Giéc-manh đã có các hội đồng bán-dân chủ; trong khi đó một số cấu trúc hành chính còn sót lại của đế chế La Mã vẫn tồn tại bên cạnh những thể chế của giáo hội Thiên chúa giáo. Khi đức vua Clovis của chủng tộc Giéc-manh tạo ra một sự kết hợp giữa cấu trúc nhà nước La Mã với các quy tắc và thể chế chính trị của chủng tộc này vào năm 511, một số khu vực của châu Âu đã ‘đứng trước ngưỡng của hành lang’ hướng tới tự do. Để chắc chắn, có một ‘quá trình lịch sử chậm chạp và đầy đau đớn’; đó là một giai đoạn kéo dài 700 năm trước khi Vua John của vương quốc Anh ký Đại Hiến Chương (Magna Carta) vào năm 1215, một bước ngoặt cho sự phân phối quyền lực hợp pháp vượt lên sự cai trị của vương triều. Tuy nhiên, các cấu trúc nhà nước được ghép vào một cơ chế cho một xã hội đại diện, thông qua các quốc hội, có nghĩa là cả nhà nước và xã hội có thể mở rộng quyền lực của họ. Như Acemoglu và Robinson đã nói, sự cân bằng ngẫu nhiên này có hiệu quả ‘đưa châu Âu vào hành lang, tạo ra hiệu ứng Nữ hoàng Đỏ trong một quá trình cạnh tranh không ngừng giữa nhà nước và xã hội’. ‘TỰ DO RẤT MONG MANH’ Acemoglu và Robinson nhấn mạnh, việc châu Âu dẫn đầu trong việc tạo ra các nhà nước đảm bảo cho tự do là không thể tránh khỏi. Các tác giả lưu ý, gần 3.000 năm trước, Trung Quốc cổ đại được tổ chức thành các thành bang, và một cố vấn chính trị có ảnh hưởng thời đó đã viết rằng ‘người dân là chủ nhân của các đấng thần linh'. Nhưng đến thế kỷ thứ tư trước Công nguyên, được thúc đẩy bởi chính trị gia và nhà lý luận Thương Ưởng, các nhà cai trị Trung Quốc đã xây dựng một nhà nước hùng mạnh hơn nhiều, trở thành đế chế Tần. Mặc dù có nhiều thời điểm có thể tiến hành các cuộc cải cách tiềm năng, được mô chi tiết trong tác phẩm ‘Hành lang chật hẹp’ này, nhưng trong hầu hết các giai đoạn về sau, nhà nước Trung Quốc vẫn có quyền lực hơn nhiều so với quyền lực của xã hội Trung Quốc. Hơn nữa, Acemoglu gợi ý, trạng thái chuyên chế tồn tại càng lâu, thì ‘nó càng tự củng cố.’ Ông nói thêm: ‘Càng tồn tại lâu, nó càng thiết lập một hệ thống phân cấp khó thay đổi và càng khiến xã hội suy yếu. Đó là lý do vì tôi nghĩ rằng những mơ ước về một nước Trung Hoa chuyển chuyển đổi suôn sẻ sang một hệ thống dân chủ trở nên viển vông- [nó đã trải qua] 2.500 năm của chế độ độc tài nhà nước’. Những khảo sát về Hoa Kỳ trong tác phẩm ‘Hành lang chật hẹp’ được tiến hành trong quãng thời gian dài, mặc dù đó là một khoảng thời gian ngắn hơn nhiều [so với Trung Quốc (ND)]. Hiến pháp Hoa Kỳ và cấu trúc của chính quyền được phát triển vào cuối thế kỷ XVIII, Acemoglu và Robinson viết, là bởi ‘khế ước kiểu Faust’ do những người của phái Liên bang tạo ra để hạn chế cả quyền lực tuyệt đối [của nhà nước] và cả quyền lực của nhân dân. Các tác giả tin rằng, cấu trúc này, đặc biệt là sự nhấn mạnh của nó đối với các quyền của tiểu bang, ‘có nghĩa là nhà nước liên bang vẫn bị suy yếu ở một số khía cạnh quan trọng. Ví dụ, rõ ràng là hệ thống này đã không bảo vệ người nô lệ cũng như người Mỹ gốc Phi khỏi bạo lực, sự phân biệt đối xử, nghèo đói và áp chế’. Acemoglu và Robinson cũng tin rằng việc tập trung quá nhiều vào ‘sự thiết kế Hiến pháp rất xuất sắc’ là có vấn đề, bởi nó ‘bỏ qua vai trò đặc biệt quan trọng của sự huy động [sức mạnh] xã hội và [hiệu ứng] Nữ Hoàng đỏ. Hiến Pháp và Tuyên ngôn Nhân quyền Hoa Kỳ… là kết quả của sự tranh giành [quyền lực] giữa giới tinh hoa và nhân dân. Việc mở rộng quyền và tự do của Hoa Kỳ đã xuất hiện không liên tục - sau Nội chiến, phong trào dân quyền, và phong trào quyền nữ, và các phong trào khác. Nhưng những quyền tự do này cũng có thể thoái trào nếu các phong trào phản đối của giới chính khách trở nên đủ hiệu quả. Acemoglu nói: ‘Đó là chiều hướng mà trong đó tự do là mong manh. Nếu bạn nghĩ rằng sự tự do phụ thuộc vào các thiết kế [kiểm soát quyền lực (ND)] thông minh, bạn đã nghĩ rằng chúng ta sẽ tìm thấy thiết kế hoàn hảo để bảo vệ sự tự do trong mọi trường hợp. Nhưng nếu bạn nghĩ rằng nó phụ thuộc vào quá trình lộn xộn này, thì đó là một sự tồn tại mang tính ngẫu nhiên và hỗn loạn hơn nhiều.' ĐỐI MẶT VỚI ‘NHỮNG THÁCH THỨC ĐẦY CẤP BÁCH NGÀY NAY CỦA CHÚNG TA’ ‘Hành lang chật hẹp’ hẹp khảo sát nhiều trường hợp xây dựng nhà nước khác trong lịch sử, từ Ấn Độ tới châu Phi đến vùng Scandinavia. Tác phẩm này cũng được phát triển dựa trên các nghiên cứu mà Acemoglu và Robinson đã cùng thực hiện với nhau nhằm khảo sát mối quan hệ giữa xã hội, các thể chế nhà nước và tăng trưởng kinh tế. Chúng bao gồm các cuốn sách ‘Economic Origins of Dictatorship and Democracy’ [Những nguồn gốc kinh tế của chế độ tài và nền dân chủ] (2006) and ‘Why Nations Fail’ [Tại sao các quốc gia thất bại] (2012). Hai học giả này cũng đã đồng tác giả 36 bài nghiên cứu đã được xuất bản về các chủ đề này (một số nghiên cứu có thêm các đồng tác giả khác). Acemoglu cũng đã công bố rộng rãi các nghiên cứu về kinh tế học lao động, tác động của công nghệ đối với việc làm và tăng trưởng, và vận động kinh tế vĩ mô. Ông là một trong mười hai giáo sư của MIT được vinh danh trong mùa hè này, và đã trở thành giáo sư của Khoa Kinh tế học tại MIT từ năm 1993. Quan điểm về tự do của hai tác giả cuốn sách này trái ngược với nhiều mô hình khác. Sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh đã giúp tạo ra ý tưởng về một ‘sự kết thúc của lịch sử’ trên bình diện địa chính trị, trong đó các nhà nước sẽ hội tụ về mô hình tự do-dân chủ. Quan niệm đó đã không dự báo chặt chẽ sự phát triển tiếp theo. Các lý thuyết về hiện đại hóa sau Đại chiến Hai cũng không đặt ra một con đường mang tính chuẩn hóa cho sự thịnh vượng trên nền tảng dân chủ dành cho cho các nước đang phát triển. Theo Acemoglu, ‘Có nhiều đích mà các quốc gia có thể hướng đến. Không có gì đảm bảo rằng một nhà nước chuyên chế hay một nhà nước yếu chỉ tồn tại tạm thời, và cũng không có một tiến trình chắc chắn nào mà có thể lôi kéo mọi quốc gia hướng tới tự do một cách suôn sẻ' Acemoglu nói, hơn nữa, ‘Lập luận của chúng tôi không phải là một lập luận trong đó văn hóa mang tính quyết định’. Ông nói thêm: ‘Có những quan điểm trong đó kinh tế mang tính quyết định. Quan điểm của chúng tôi nhấn mạnh đến vai trò của các tác nhân là cá nhân và xã hội, và khẳng định rằng các tổ chức xã hội khác nhau sẽ dẫn đến những kết quả khác nhau. Nó cũng không dựa trên địa lý. Tôi nghĩ rằng lý thuyết của chúng tôi có rất nhiều điểm khác biệt với các lý thuyết [khác]’. Các học giả đã ca ngợi 'Hành lang hẹp.' Joel Mokyr, một nhà sử học tại Đại học Northwestern, đã gọi nó là 'một cuốn sách vĩ đại [được viết ra bởi] sự sáng suốt và với mang tính học thuật cao', rút ra một kết luận lạnh lùng mà những người có khả năng tư duy nên nhận ra: Tự do là hiếm có vì nó mong manh, được liên kết một cách không hề dễ dàng giữa sự chuyên chế và tình trạng vô chính phủ. Nền chính trị ngày nay cũng đã tạo ra nhiều cuộc thảo luận về tương lai của quản trị [xã hội] và của nền dân chủ. Acemoglu nói, theo hướng này, ‘Hành lang chật hẹp’ là một sự gắn kết với quá khứ với mục đích soi sáng hiện tại. Acemoglu nói: ‘Chúng ta cần suy nghĩ về lịch sử. Chúng tôi viết cuốn sách này bởi chúng tôi nghĩ rằng nó có liên quan đến những thách thức rất cấp bách đối với chúng ta ngày nay. Tạo ra sự cân bằng chính trị đúng đắn, đồng thời huy động [sự tham gia của] xã hội, trong khi không làm suy yếu luật pháp và thể chế, là những thách thức đầu tiên mà chúng ta phải đối mặt ngày nay. Tôi hy vọng quan điểm của chúng tôi sẽ làm sáng tỏ những vấn đề đó’. (Nguồn: http://news.mit.edu/2…/narrow-corridor-acemoglu-liberty-0924)
popup

Số lượng:

Tổng tiền: