BÀN VỀ YẾU TÍNH CỦA CHÂN LÝ - MARTIN HEIDEGGER - DƯƠNG NGỌC DŨNG dịch - PHẦN III

14/ 03/ 2022

Xem BÀN VỀ YẾU TÍNH CỦA CHÂN LÝ - MARTIN HEIDEGGER - DƯƠNG NGỌC DŨNG dịch - PHẦN I

Xem BÀN VỀ YẾU TÍNH CỦA CHÂN LÝ - MARTIN HEIDEGGER - DƯƠNG NGỌC DŨNG dịch - PHẦN II

7. Phi chân lý là sự lầm lạc (die Irre)

Với tư cách nhập tính, con người bị xoay hướng về những hiện thể sẵn sàng nhất trước mắt. Nhưng hắn nhập tính được là nhờ đã xuất tính rồi, vì, suy cho cùng, hắn luôn luôn lấy hiện thể làm chuẩn thức. Tuy nhiên, khi lấy sự vật làm chuẩn thức như thế, con người đang tách xa sự ẩn mật. Việc nhập tính (=khăng khăng đeo níu) xoay hướng về những gì sẵn có trước mắt (Zuwendung zum Gangbaren) và việc xuất tính ra rời khỏi những điều ẩn mật (Wegwendung vom Geheimnis) cùng thuộc về nhau. Chúng là một và đồng nhất. Việc xoay về hay xoay đi cũng thuộc về yếu tính của Hiện Tính (Dasein). Sự chạy trốn của con người khỏi sự ẩn mật hướng về những gì có sẵn trước mắt, cứ liên tục trượt đi từ sự vụ thông tục này đến sự vụ thông tục khác, đi lướt qua sự bí ẩn, đây chính là sự lầm lạc (das Irren).

Con người lầm lạc. Con người không những đơn thuần là lạc lối vào lỗi lầm. Hắn luôn luôn đi lạc trong sai lầm, vì với tư cách là xuất tính, hắn nhập tính [=khăng khăng níu kéo vào một phương diện nào đó của thực thể] và như thế là rơi vào lầm lẫn. Sự lầm đường lạc lối này mà con người trót sa vào không phải giống như một cái rãnh nước chạy song song với con người mà thỉnh thoảng hắn trượt chân rơi vào đó. Đúng hơn, lầm đường lạc lối thuộc về cấu tính nội tại của Hiện Tính (Dasein) mà con người lịch sử bị đưa vào. Lầm lạc là vùng không gian hoạt động của sự xoay hướng (Spielraum jener Wende) trong đó nhập tính và xuất tính cứ thường xuyên quên lãng (vergisst) và ngộ nhận (vermisst) lẫn nhau. Việc che giấu (Verbergung) hiện thể bị giấu che như một toàn thể (verborgenen Seienden im Ganzen) ngự trị trong việc khai mở ra các hiện thể cụ thể (Entbergung des jeweiligen Seienden), việc che giấu này, sự quên lãng việc che giấu, đã trở thành sự lầm lạc.

Sự lầm lạc là sự phản yếu tính cốt yếu (wesentlich Gegenwesen) của yếu tính căn nguyên của chân lý. Lầm lạc tự mở ra như cương vực nghịch thường cho tất cả những gì đi ngược lại với chân lý cốt yếu. Lầm lạc là cương vực của và cho nền tảng sở cứ của sai lầm. Sai lầm không phải chỉ là một lỗi lầm cô lập mà đúng ra là một cảnh vực bao gồm tất cả những rối rắm lùng bùng trong đó mọi thứ lầm lỡ đều đan bện chằng chịt với nhau.

Tương ứng với sự khai mở của nó và sự quan hệ của nó với hiện thể như một toàn thể, mỗi một tư thái hành xử [của con người] đều có một kiểu lầm lỗi riêng. Các lầm lỗi này có thể bao gồm từ những việc bình thường nhất như lãng phí thời gian, sai phạm, tính toán sai, cho đến việc đi lạc, hay mạo hiểm quá mức trong các quyết định và thái độ quan trọng. Tuy nhiên, lầm lỗi thông thường được mọi người, và thậm chí cả các triết gia, công nhận chính là sự phán đoán không chuẩn xác và sự sai lầm trong tri thức, thật ra đây chỉ là một kiểu sai hời hợt nhất. Sự sai lầm trong đó bất kỳ bộ phận nào của nhân loại lịch sử đều phải tiến bước bên trong nó chủ yếu có liên quan tới tính khai mở của Hiện Tính (Dasein). Khi dẫn con người đi lầm đường lạc lối, sự sai lầm thống trị con người toàn diện. Tuy nhiên, khi dẫn con người đi lầm đường như thế (Beirrung), sự lầm lạc đồng thời cũng tạo ra một khả thể là con người có khả năng tạo ra từ tiềm năng xuất tính của mình khả tính không bị dẫn dắt sai lầm nữa bằng cách trải nghiệm bản thân sự lầm lạc chứ không nhầm lẫn sự bí ẩn của Hiện Tính (Dasein).

Vì sự xuất tính và nhập tính của con người được tiến hành trong tình trạng lầm lẫn, và bởi vì sự lầm lẫn như là sự dẫn đi sai lạc luôn luôn bức bách theo cách này hay cách khác và trở nên đáng sợ do sự bức bách của sự ẩn mật, cụ thể là như một điều bị quên lãng, trong sự xuất tính của Hiện Tính, con người đặc biệt phải chịu đựng sự thống trị của ẩn mật và sự bức bách của lầm lẫn. Hắn rơi vào tình cảnh bức thiết do bị dằng kéo bởi cái này và cái kia. Yếu tính đầy đủ của chân lý, kể cả phi yếu tính của nó, giữ Hiện Tính trong tình trạng bức thiết vì cứ phải lúc thì chuyển xoay về phía này, lúc thì chuyển xoay về hướng khác. Hiện Tính là một sự chuyển xoay thành nhu cầu bức thiết. Từ Hiện Tính của con người và chỉ từ đó mà thôi đã khởi sinh sự khai mở của tất yếu tính (Notwendigkeit) và kết quả là khả thể của việc bị chuyển di vào tình trạng không sao né tránh được. Sự khai mở của hiện thể như là thế về phương diện nội tại đồng thời cũng là sự che giấu tính thể như một toàn thể. Sự lầm lạc thống trị trong sự đồng thời của khai mở và che giấu. Sự lầm lạc và sự che giấu điều bị che giấu thuộc về yếu tính căn nguyên của chân lý. Tự do, được quan niệm trên cơ sở xuất tính-nhập tính của Hiện Tính, là yếu tính của chân lý (hiểu theo nghĩa là sự chuẩn xác trong việc trình hiện) chỉ vì bản thân tự do cũng khởi sinh từ yếu tính căn nguyên của chân lý, sự thống trị của ẩn mật trong lầm lẫn. Để cho hiện thể là hiện thể chỉ thực hiện được trong một tư cách thể thái mở. Tuy nhiên, việc “để nguyên” hiện thể như là thế như một toàn thể chỉ xảy ra theo một cách thức phù hợp với yếu tính của nó chỉ khi thỉnh thoảng nó được nắm bắt (übernommen) trong yếu tính nguyên sơ của nó. Lúc bấy giờ sự cởi mở ra một cách cương quyết chấp nhận sự ẩn mật (Ent-schlossenkeit zum Geheimnis) đang lên đường tiến vào sự lầm lạc như là thế. Lúc bấy giờ câu hỏi về yếu tính của chân lý sẽ được đặt ra một cách căn nguyên hơn. Lúc bấy giờ nền tảng kết nối giữa yếu tính của chân lý và chân lý của yếu tính sẽ tự bộc lộ ra. Cái nhìn thoáng qua vào trong sự ẩn mật, thoát ra từ cõi lầm lạc, theo ý nghĩa là một cuộc tra vấn độc đáo về tính thể như là thế trong toàn thể có nghĩa là gì. Sự tra vấn này suy tư về câu hỏi Tính Thể của hiện thể, một câu hỏi chủ yếu dẫn chúng ta đi lạc đường và vẫn chưa được nắm bắt đầy đủ trong ý nghĩa đa dạng của nó. Việc tư duy về Tính Thể, từ đó sự tra vấn như thế đầu tiên có thể khởi sinh lên được, từ thời Plato đã được xem là “triết học,” và sau đó nhận thêm cái tên là “siêu hình học.”

8. Triết học và vấn đề chân lý

Trong sự suy tư về Tính thể sự giải thoát con người để xuất tính, sự giải thoát này là sở cứ của lịch sử, nó đã được chuyển hóa thành ngôn từ. Những ngôn từ ở đây không phải là những câu diễn đạt một ý kiến nào đó nhưng luôn luôn là sự nói lên chân lý về tính thể đã được bảo tồn một cách hiệu quả. Bao nhiêu người có thể nghe ra được những nguyên ngôn này thì không quan trọng. Những người nào nghe được sẽ quyết định vị thế con người trong lịch sử. Tuy nhiên, vào lúc mà triết lý khởi sinh, sự thống trị của lương tri bình thường (sự ngụy biện) cũng đã bắt đầu. Ngụy biện kêu gọi đến tính chất không thể nghi ngờ của các hiện thể đã được khai mở và lý giải mọi chất vấn trầm tư là một tấn công vào lương tri thông thường, một sự chọc giận đầy bất hạnh vào các lý lẽ bình thường. Tuy nhiên việc đánh giá triết học từ góc nhìn của lương tri bình thường, một việc hoàn toàn đúng lý trong lãnh địa của nó, việc này chẳng hề động chạm gì đến bản chất của triết lý, bản chất này chỉ có thể được quy định bởi mối quan hệ với chân lý căn nguyên của tính thể như một toàn thể. Nhưng vì yếu tính đầy đủ của chân lý bao hàm cả phi yếu tính và ngự trị trên tất cả như sự che giấu, triết học, với tư cách là sự tra vấn chân lý này, về phương diện nội tại phải mang tính mâu thuẫn. Tư duy triết lý là sự tháo bỏ nhẹ nhàng từ tốn không phủ nhận sự che giấu tính thể như một toàn thể. Tư duy triết lý cũng là sự cởi mở một cách nghiêm khắc và cương quyết không phá vỡ sự che giấu mà nhẹ nhàng khẩn cầu yếu tính trọn vẹn của nó đi vào vùng phơi mở của hiểu biết và như thế đã đi vào chân lý của chính nó. Khi để cho hiện thể được là hiện thể như một toàn thể trong sự nhẹ nhàng nghiêm khắc và trong sự nghiêm khắc nhẹ nhàng, triết học đã trở thành một sự tra vấn không bám ghì vào hiện thể nhưng cũng không cho phép một mệnh lệnh nào từ bên ngoài được áp đặt lên chúng. Kant đã dự báo được nhu cầu sâu thẳm nhất này của triết học. Vì ông nói về triết học như sau: “tại đây chúng ta phải nhận rằng triết học thực sự đã bị đặt vào một vị thế hết sức rủi ro, bất trắc, trong khi đáng lý ra vị thế này phải vững chắc mới đúng, mặc dù trên trời hay dưới đất triết lý cũng chẳng có một nơi chốn nào để sở cứ dung thân. Chính tại nơi đây mà triết lý đã chứng minh sự liêm khiết toàn vẹn của mình với tư cách là người gìn giữ lề luật của chính nó (Selbsthalterin ihrer Gesetze), chứ không phải là cái loa phát thanh cho các định luật được lén lút truyền thông cho nó bởi một giác quan cài cắm bên trong nào đó hay bởi ai đó đứng ra làm người đảm bảo. (Grundlegung zur Metaphysik der Sitten. Werke, Akademieausgabe IV, 425.). Với sự giải thích cốt yếu này về triết học, Kant, người mà tác phẩm đã dẫn vào giai đoạn chuyển mình cuối cùng của siêu hình học phương Tây, đã hình dung ra được một lãnh vực mà chắc chắn chỉ có ông thấu hiểu trên cơ sở quan điểm siêu hình căn bản của ông vốn được xây dựng trên nền tảng của chủ thể tính, mà theo Kant hiểu chính là người đứng ra gìn giữ cho lề luật của triết học. Quan điểm cốt yếu này về sự định tính xác định cho triết học tuy vậy đã đi đủ xa để từ bỏ mọi nỗ lực nô lệ hóa tư duy triết học, mà nỗ lực bần tiện nhất là giảm trừ giá trị của triết học xuống thành “việc biểu hiện” cho văn hóa (Spengler) hay một món đồ trang trí cho nhân loại đang tham gia sản xuất. Tuy nhiên, thực sự triết học với tư cách là “người gìn giữ lề luật của chính nó” có hoàn thành trọn vẹn yếu tính quyết định căn nguyên của nó hay không, hay là ngay từ đầu triết học đã được gìn giữ và phân công nhiệm vụ gìn giữ bởi chân lý sở thuộc của nó, điều này còn tùy vào tính căn nguyên nhờ đó yếu tính ban đầu của triết học trở nên thiết yếu cho việc tra vấn đầy tư tưởng.

Công trình hiện tại đã đưa câu hỏi về yếu tính chân lý đi vượt ra khỏi phạm vi của định nghĩa thông thường được cung cấp trong quan niệm thông thường về yếu tính và giúp chúng ta xem xét liệu rằng câu hỏi về yếu tính chân lý, đồng thời và thậm chí là lần đầu tiên, chẳng phải là câu hỏi liên quan đến chân lý về yếu tính hay sao? Nhưng trong quan niệm về “yếu tính” triết học tư duy Tính Thể. Khi lần dò lại khả tính nội tại của tính chuẩn xác của các mệnh đề trở về với trạng thái tự do xuất tính khi để hiện thể tồn thể như là thế là nền tảng sở cứ, cũng tương tự như thế việc chỉ ra sự khởi đầu cốt yếu của nền tảng này tron việc che giấu và lầm lẫn, chúng tôi muốn cho thấy rằng yếu tính của chân lý không phải là “tính phổ biến” trống rỗng hay một “sự phổ quát” trừu tượng. Đúng hơn yếu tính của chân lý là duy nhất, độc đáo, trong khi tự che giấu đi, chính lại là một lịch sử không ngừng nghỉ của việc khai mở ý nghĩa của điều mà chúng tôi gọi là Tính Thể, điều mà trong một thời gian dài chúng ta vẫn quen xem chỉ như một hiện thể trong toàn thể.

9. Chú thích

Câu hỏi về yếu tính chân lý khởi sinh từ câu hỏi về chân lý của yếu tính. Trong câu hỏi trước yếu tính được hiểu là “yếu tố làm cho một vật thể chính là nó” (quidditas) hay “nội dung vật thể” (realitas) của nó, trong khi chân lý được hiểu là một đặc tính của tri thức. Trong câu hỏi về chân lý của yếu tính, yếu tính được hiểu như một thuật từ. Trong thuật từ này, vốn vẫn còn tồn tại trong sự trình bày của siêu hình học, Tính Thể được xem là sự khác biệt giữa Tính Thể và các hiện thể. Chân lý có nghĩa là “sự che chở tỏa sáng” (lichtendes Bergen) là đặc tính căn bản của Tính Thể. Câu hỏi về yếu tính của chân lý tìm thấy câu trả lời của nó trong lời đề nghị rằng yếu tính của chân lý chính là chân lý của yếu tính. Sau khi chúng tôi giải thích mọi người có thể dễ dàng thấy rằng lời đề nghị nói trên không đơn thuần chỉ là lật ngược trật tự câu từ để tạo ra một kiểu nghịch lý. Chủ ngữ của mệnh đề- nếu cái phạm trù ngữ pháp bất hạnh này vẫn còn được sử dụng- là chân lý của yếu tính. Chở che mà lại chiếu sáng – có nghĩa là mở ra, khai mở ra một cách thiết yếu- là sự hòa hợp giữa tri thức và hiện thể. Mệnh đề này không có tính biện chứng. Nó không phải là một mệnh đề theo nghĩa là một câu phát biểu. Câu trả lời cho câu hỏi về yếu tính của chân lý là lời nói về một chuyển hướng (die Sage einer Kehre) trong lịch sử của Tính Thể. Vì sự che chở mà lại chiếu sáng thuộc về nó, Tính Thể xuất hiện ra một cách căn nguyên trong ánh sáng của sự rút lui ẩn giấu. Tên của sự khai quang chiếu diệu (Lichtung) này chính là aletheia (=sự không ẩn giấu).

Ngay trong dự định ban đầu bài giảng “Về yếu tính của chân lý” sẽ được nối tiếp bởi bài giảng thứ hai “Về chân lý của yếu tính.” Lý do của việc không thực hiện được bài giảng thứ hai này đã được chỉ ra trong “Thư về chủ nghĩa nhân bản.” Câu hỏi quyết định (trong Tính Thể và Thời Gian, 1927) về ý nghĩa, của lãnh vực-dự phóng (Entwurfsbereich) của khai thể (Offenheit), của chân lý về Tính Thể, không phải chỉ riêng của hiện thể, vẫn còn cố ý để nguyên không triển khai gì thêm. Tư duy của chúng tôi có vẻ như vẫn còn di chuyển trên con đường của siêu hình học.

LƯỢC GIẢI:

Heidegger tóm lược sự thuyên giải về chân lý theo quan niệm truyền thống như sau:

1-Chốn sở cư (locus) của chân lý là các mệnh đề phán đoán.

2-Yếu tính của chân lý nằm trong sự hòa hợp giữa phán đoán và đối tượng của nó.

3-Aristotle, cha đẻ của lô gic học, không những cho rằng chốn sở cứ căn nguyên của chân lý là các mệnh đề phán đoán. Ông còn khởi động cho cái định nghĩa về chân lý vẫn còn được chấp nhận cho đến ngày hôm nay là “sự tương ứng/ hòa hợp giữa trí năng và sự vật.” Quan niệm này Heidegger gọi là quan niệm tri thức luận (epistemological): chân lý chỉ là một hiện tượng nhận thức đúng đắn.

Quan niệm về chân lý của Heidegger là quan niệm mang tính bản thể luận (ontological). Chân lý gắn liền với Tính Thể (Sein) và con người (Dasein=Hiện Tính). Không có con người, không có chân lý.

Heidegger cho rằng gán ghép chân lý cho những mô tả được xem là chính xác về thế giới là một việc làm nguy hiểm. Các sự vật (mà Heidegger gọi là “hiện thể”) luôn luôn trình hiện ra cho chúng ta trong một thể cách hết sức bất toàn, không hoàn chỉnh. Heidegger không nói rằng những câu phát biểu của chúng ta hay của nhà khoa học về một sự thể nào đó là sai. Ông cũng không nói rằng sự thể được trình hiện cho chúng ta một cách xuyên tạc. Heidegger cho rằng chúng ta chỉ có thể quan sát thấy được một phần rất không đầy đủ về khả tính của sự vật tại một thời điểm nhất định, trong một không gian nhất định. Chúng ta chỉ có thể thấy được một trong vô số các phiên bản khác nhau của sự vật đó mà thôi. Vấn đề lớn nhất trong lịch sử triết học chính là các triết gia cũng chỉ nắm trong tay một phiên bản nào đó về sự vật hay hiện tượng, cho đó là phiên bản duy nhất “đúng,” và loại trừ mọi phiên bản khả thể khác của sự vật đó, hiện tượng đó, xem chúng là “sai lầm.” Phiên bản mà các triết gia đó có được từ việc quan sát một sự vật hay hiện tượng không phải “sai” mà là “không đầy đủ,” chưa phản ánh hết khả tính trình hiện của sự vật đó, hiện tượng đó.

Một mệnh đề liên hệ với sự vật bằng cách trình hiện nó. “Trình hiện” trong tiếng Đức là “vorstellen” (vor= trước; stellen= đặt). “Trình hiện” một sự vật là đem sự vật ấy “đặt” trước sự chú tâm, chú ý của chúng ta theo một thể cách tồn tại (mode of being) nào đó. Thí dụ một người nói: “Cuốn sách đang ở trên bàn.” Tình trạng cuốn sách “đang ở trên bàn” được trình bày ra cho một sự quan tâm nào đó, ví dụ câu trên có thể là một câu trả lời cho câu hỏi “Cuốn sách đâu rồi?” Thao tác “trình hiện” một hiện tượng, một sự vật, một tình huống, một sự thể nào đó là cách mà chúng ta “dấn thân” (sich einlassen auf= to engage with) với hiện tượng đó, tình huống đó. “Dấn thân” với sự vật khiến chúng ta trở nên quen thuộc với nó và có thể đưa ra những câu phát biểu về sự vật đó để “trình hiện” nó. Thay vì dùng cụm từ “dấn thân” (sich einlassen auf) sau đó Heidegger chuyển sang dùng một thuật ngữ tương đương là “tư cách thể thái” (Verhalten= comportment) để diễn tả cách thức ứng xử, đối đãi, giao tiếp của chúng ta với một sự vật hay tình huống cụ thể nào đó. Chúng ta luôn luôn ứng xử với sự vật theo một thể cách cụ thể nào đó “như là thế.” Heidegger dùng cụm từ “như là thế” (als solche) để chỉ phương thức ứng xử (tư thái) của chúng ta với một sự vật cụ thể và hàm ý rằng với các phương thức, thể thái ứng xử khác, sự vật hay tình huống có thể tự “trình hiện” ra “những khuôn mặt” khác nữa.

Làm thế nào những mệnh đề phát biểu (Aussage) có thể phản ánh các sự vật/ sự thể một cách chính xác?

Heidegger cho rằng bất cứ một mệnh đề phát biểu nào- tức là mệnh đề trình hiện một sự khai mở nào đó của sự vật- cũng cần phải tuân thủ theo một tiêu chí cho trước vì chính tiêu chí này cho phép chúng ta đánh giá tính chân lý của mệnh đề phát biểu. Thí dụ như mệnh đề “cuốn sách đang ở trên bàn” được xem là một mệnh đề đúng nếu nó mô tả chính xác tình hình hiện nay của cuốn sách. Như vậy “mô tả chính xác” chính là tiêu chí đánh giá. Nhưng chúng ta sở hữu được tiêu chí này từ đâu? Và từ đâu chúng ta có được tiêu chí để biết đó là một tiêu chí? Giống hệt như câu hỏi “con gà có trước hay quả trứng có trước” có vẻ như chúng ta lại di chuyển trong một cái vòng lẩn quẩn. Chính vì để tránh né cái vực thẳm lô gic không đáy này, Heidegger đã lập luận rằng yếu tính của chân lý không hệ tại trong bản thân các mệnh đề phát biểu, mà nó ở trong một khả tính căn nguyên nhất, khả tính đầu tiên đã ban bố một tiêu chí để đánh giá tính chính xác của các mệnh đề trình hiện.

Khả tính căn nguyên này chính là tự do. Tự do là yếu tính của chân lý. Nhưng bản chất của tự do là gì?

Nhưng chính tại đây chúng ta thấy rõ rằng tự do là nền tảng của khả tính nội tại của sự chuẩn xác chỉ vì nó tiếp thu yếu tính của nó từ yếu tính nguyên sơ hơn nữa của chân lý hết sức căn cơ. Tự do trước hết được xác định như là tự do cho điều được khai mở trong một cõi miền khai phóng. Chúng ta phải nghĩ như thế nào đây về yếu tính này của tự do? Điều được khai mở, điều mà một câu phát biểu trình hiện, nếu đúng, phải tương ứng với, là những hiện thể được mở phơi ra trong một tư thái phơi mở. Tự do cho những gì được khai lộ ra trong một cõi miền rộng mở chính là để cho các hiện thể hiện hữu như chúng là (lässt das jeweilige Seiende das Seiende sein, das es ist). Tự do giờ đây đã bộc lộ chính nó như việc để cho các hiện thể là các hiện thể (VỀ YẾU TÍNH CỦA CHÂN LÝ: phần 5, xem bản dịch).

Chính vì thế Heideger đã định nghĩa chân lý là sự khai mở (Erschlossenheit) hay là “sự không che giấu” (Unverborgenheit). Đối với tư duy triết học truyền thống, như thế chân lý là một vấn đề thuộc nhận thức luận, nhưng theo Heidegger, chân lý là một vấn đề của tính thể học (siêu hình học). Aristotle, theo sự giải thích của Heidegger, cho rằng chân lý là sự khai mở của Tính Thể cho chúng ta, cho con người. Tính Thể tự nó khai mở ra cho chúng ta. Nhờ sự khai mở này mà chúng ta mới có thể thực hiện các phán đoán dưới dạng các mệnh đề để nói về những gì mà Hữu Thể mở ra cho chúng ta. Như thế chân lý là sự vụ khai mở (Entdecken), không ẩn giấu (Unverborgenheit), không che đậy, của các hiện thể cho con người tại thế.

Điều đóng góp đặc biệt nhất của Heidegger trong lý thuyết của ông về chân lý nằm ở quan niệm: phi chân lý là một bộ phận thiết yếu của chân lý. Nói cách khác, nếu phát biểu rằng chân lý (hiểu theo nghĩa aletheia= khai mở ra, tình trạng không ẩn giấu) tồn tại trong mối quan hệ với con người thì phi chân lý (hiểu theo nghĩa “sự che giấu, ẩn giấu, che đậy= Verbergung) còn quan hệ với con người trong một mức độ còn sơ nguyên hơn nữa. Quan điểm về phi chân lý (Unwahrheit) hiểu như sự “che giấu” rất gần với quan niệm Vô Minh của Phật Giáo. Theo Phật Giáo, vô minh chính là điều kiện căn bản, điều kiện tiên khởi, của toàn bộ chuỗi hoạt động nhân duyên. Vô minh không phải là ngu dốt, không phải là thiếu kiến thức, thiếu giáo dục. Đó chỉ là tình trạng sống trong bóng tối mà không hay biết, cứ ngỡ đó là ánh sáng, như các tù nhân trong hang động của Plato. Toàn bộ nỗ lực của một người Phật tử là đưa ánh sáng vào một ngôi nhà tăm tối hàng vạn kiếp này để trực ngộ vào cảnh giới giải thoát, chấm dứt sinh tử luân hồi. Các triết gia Đại Thừa đã nhận ra rằng sinh tử và Niết Bàn chính là đồng nhất không hai, cũng như Heidgger khẳng định rằng tình trạng phi chân lý cũng là yếu tính của chân lý. Con người vừa khai mở vừa che giấu hiện thể cùng một lúc.

Vậy thì con người là gì trong nhãn quan triết học của Heidegger? Triết gia này dùng từ Da-sein để chỉ “con người,” vì con người có một đặc trưng hết sức độc đáo là “xuất tính” (ek-sistent=đi ra khỏi mình) để hướng đến Tính Thể, một tiến trình soi sáng nhờ đó các hiện thể tự khai mở. Tính Thể tự bộc lộ là chân trời của thế giới nên sự khai mở của Da-sein hướng về Tính Thể được xem là tính chất căn cơ nhất của Hữu-tại-thế (In-der-Welt-Sein), một tên gọi khác của con người. Cấu tạo tồn sinh (Seinsverfassung) của con người khiến con người có thể đồng thời sống theo hai thể cách khác nhau: thể cách chân tính và thể cách phi chân tính (=sống trong tình trạng phi chân lý). Khi Tính Thể bị che giấu, con người cũng bị rơi vào tình trạng bị giấu kín đối với chính bản thân, tức là trạng huống phi chân lý, rơi vào tình cảnh sa đọa (Verfallensform), sống theo bản năng bầy đàn giữa “cõi tục” (das Man), chạy theo thông tin dư luận (offenlichen Ausgelegtheit), tán nhảm (Gerede), tò mò tọc mạch (Neugier) ngụy trang, vờ vịt (Verstellentheit), thái độ khép kín (Verschlossenheit) nói chung là tình trạng “quên lãng Tính Thể” (Seinsvergessenheit).

Con người (Dasein) không những có khả năng “xuất tính” (=khai mở tính thể của hiện thể) mà còn rơi vào tình trạng “nhập tính” (=insistieren). Khi nói về sự lầm lạc (das Irren), Heidegger viết:

Với tư cách nhập tính, con người bị xoay hướng về những hiện thể sẵn sàng nhất trước mắt. Nhưng hắn nhập tính được là nhờ đã xuất tính rồi, vì, suy cho cùng, hắn luôn luôn lấy hiện thể làm chuẩn thức. Tuy nhiên, khi lấy sự vật làm chuẩn thức như thế, con người đang tách xa sự ẩn mật. Việc nhập tính (=khăng khăng đeo níu) xoay hướng về những gì sẵn có trước mắt (Zuwendung zum Gangbaren) và việc xuất tính ra rời khỏi những điều ẩn mật (Wegwendung vom Geheimnis) cùng thuộc về nhau. Chúng là một và đồng nhất. Việc xoay về hay xoay đi cũng thuộc về yếu tính của Hiện Tính (Dasein). Sự chạy trốn của con người khỏi sự ẩn mật hướng về những gì có sẵn trước mắt, cứ liên tục trượt đi từ sự vụ thông tục này đến sự vụ thông tục khác, đi lướt qua sự bí ẩn, đây chính là sự lầm lạc (das Irren)[ VỀ YẾU TÍNH CỦA CHÂN LÝ: phần 7, xem bản dịch].

Cần lưu ý cụm từ “tiến trình khai mở” vì chân lý là một tiến trình, không phải là một phẩm chất cố định. Hiện thể được khai mở, sau đó lại rơi vào tình trạng ẩn giấu như trước. Phi chân lý (Unwahrheit) gắn liền với chân lý. Con người sống trong chân lý và như thế có nghĩa là sống trong tình trạng phi chân lý. Nắm bắt (ergreifen) một sự vật gì đó đồng thời cũng có nghĩa là nắm sai nó (vergreifen), mở ra, phát hiện ra, khám phá ra (entdecken), cũng có nghĩa là đậy lại, che lại, ẩn giấu đi (verdecken), khai mở ra, tiết lộ ra (erschliessen) cũng đồng thời là đóng kín lại, bưng bít lại (verschliessen). Tình trạng không sao tránh khỏi của kiếp làm người này chính là tình trạng “phi chân lý/ không có chân lý” (Unwahrheit) mà Heidegger nói đến. “Ý nghĩa trọn vẹn về mặt tồn sinh-tính thể của cụm từ “Con người trong chân lý” cũng đồng thời có nghĩa là “con người trong sự phi chân lý. Trong trạng thái u tối này hiện thể vừa khai mở ra lại bị đẩy lùi trở lại trong bóng tối của sự ẩn giấu. Con người (Dasein) lại phải nỗ lực đưa sự vật càng xa càng tốt ra khỏi tình trạng ẩn giấu, đem sự vật ra ánh sáng, để hiện thể được tự trình hiện như là hiện thể. Chân lý phải được dành giật (abgerungen), xé rách (entrissen), cướp giật (Raub) ra khỏi tình trạng bị ẩn giấu. Đây chính là ý nghĩa tối hậu của từ aletheia= tiến trình bóc mở, khai phá, khai mở, khai phóng, giải phóng, giải thoát, giải cứu sự vật ra khỏi bóng tối của sự che giấu. Ngay cả bản thân con người, Dasein, cũng thường xuyên bị giam giữ trong tình trạng ẩn giấu, tình trạng vô minh, không hề biết rằng yếu tính của mình là tự do, là chân lý, chỉ thực sự đạt đến tự do, đạt đến chân lý thông qua một ý chí quyết liệt (Entschlossenheit=quyết tính) phải nhìn thẳng trực diện vào bản chất hữu hạn của hiện sinh trong trạng thái thanh thản, an nhiên, buông xả, “để cho sự vật như là thế” (Gelassenheit).

  • ĐỌC THÊM
popup

Số lượng:

Tổng tiền: